Chiến lược nâng cao chất lượng lao động và an sinh xã hội

Trong bối cảnh kinh tế – xã hội Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, chất lượng lao động và hệ thống an sinh xã hội không chỉ là nền tảng cơ bản mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy sự thịnh vượng và bền vững của quốc gia.

Tuy nhiên, để đạt được điều này, Việt Nam cần vượt qua nhiều thách thức trong việc nâng cao chất lượng lao động và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt khi hiện trạng thực tế còn bộc lộ nhiều hạn chế.

Đây không chỉ là những số liệu thống kê khô khan, mà còn là câu chuyện về ước mơ, hy vọng và những khó khăn mà hàng triệu người lao động Việt Nam phải đối mặt hàng ngày. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao chất lượng lao động và xây dựng một hệ thống an sinh xã hội toàn diện, đảm bảo quyền lợi cho mọi người dân.

Chất lượng lao động và an sinh xã hội không chỉ quyết định sự phát triển bền vững của quốc gia mà còn là yếu tố đảm bảo sự công bằng xã hội, giảm bất bình đẳng, và thúc đẩy sự thịnh vượng của mọi tầng lớp dân cư.

Việt Nam hiện có lực lượng lao động dồi dào với hơn 51,4 triệu người, nhưng chỉ 24,6% trong số đó có trình độ từ cao đẳng trở lên. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với các nước phát triển như Hàn Quốc (80%) hay Nhật Bản (70%), gây ra sự bất lợi lớn trong hội nhập kinh tế quốc tế.

Theo Chương trình số 08-CTr/TU, mục tiêu đến năm 2025 là tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 70%, nhưng hiện tại, chỉ 20% học sinh phổ thông chọn học nghề. Điều này dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng giữa lao động trình độ cao và lao động có kỹ năng thực hành, đồng thời làm năng suất lao động của Việt Nam chỉ đạt 19,3 triệu đồng/lao động/năm.

Con số này thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình toàn cầu và chỉ bằng 7,4% của Singapore, 19% của Malaysia và 37% của Thái Lan (ILO, 2022). Những con số này không chỉ minh chứng cho khoảng cách lớn giữa Việt Nam và các quốc gia phát triển, mà còn đặt ra yêu cầu cấp bách về cải cách và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Nguyên nhân của tình trạng này bắt nguồn từ hệ thống giáo dục nghề nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Mặc dù Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành tại doanh nghiệp, nhưng chỉ có 35% doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình đào tạo.

Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ tài chính như miễn giảm học phí hay học bổng vẫn chưa đủ phổ biến, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa. Theo Nghị quyết số 99/NQ-CP (2021), Chính phủ đã đặt mục tiêu nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục và đào tạo nghề, nhưng việc triển khai thực tế chưa đạt hiệu quả mong muốn. Điều này càng làm trầm trọng thêm các thách thức của hệ thống an sinh xã hội hiện nay.

Ngoài ra, hệ thống an sinh xã hội hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong việc bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương như người khuyết tật và lao động phi chính thức. Theo Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Việt Nam chỉ đạt 33% vào năm 2022. Việc này không chỉ phản ánh nhận thức hạn chế của người dân mà còn làm giảm khả năng bảo vệ của hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt trong các tình huống bất ngờ như mất việc, thiên tai hoặc dịch bệnh.

Chẳng hạn, chị Hoa, một người mẹ đơn thân tại Hà Giang, phải vượt hơn 20 km đường núi để đưa con đi khám bệnh vì khu vực của chị không được đầu tư đủ về y tế. Với thu nhập thấp, chị không đủ khả năng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, và đây chỉ là một trong rất nhiều ví dụ về tình trạng khó khăn mà lao động vùng sâu, vùng xa đang phải đối mặt.

Thêm vào đó, anh Nam, một công nhân xây dựng tại TP.HCM, đã làm việc không chính thức hơn 10 năm mà không được tham gia bảo hiểm xã hội hay bất kỳ chế độ an sinh nào. Theo Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, các doanh nghiệp phải đảm bảo quyền lợi cho người lao động, nhưng vì công việc của anh Nam được thuê qua trung gian và không ký hợp đồng lao động chính thức, anh bị bỏ qua trong các chính sách bảo vệ quyền lợi. Khi gặp tai nạn lao động, anh phải tự chi trả toàn bộ chi phí điều trị và không nhận được bất kỳ khoản bồi thường nào, khiến gia đình rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính.

Một trường hợp khác là gia đình bà Lan, một người cao tuổi sống tại tỉnh Quảng Nam. Mặc dù bà thuộc đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, nhưng các khoản trợ cấp hàng tháng thường bị chậm trễ do thiếu nguồn ngân sách địa phương và quy trình hành chính phức tạp. Hằng ngày, bà phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của hàng xóm để mua thực phẩm và thuốc men. Trường hợp của bà Lan phản ánh rõ sự bất cập trong việc triển khai các chính sách an sinh xã hội tại nhiều địa phương, đặc biệt là các khu vực có nguồn lực hạn chế.

Ngoài ra, anh Minh, một tài xế xe ôm công nghệ tại Hà Nội, cũng là một minh chứng điển hình cho những thách thức mà nhóm lao động tự do đang phải đối mặt. Hằng ngày, anh Minh phải làm việc hơn 12 giờ, chạy xe qua từng con phố để kiếm tiền nuôi hai con nhỏ và trang trải cuộc sống. Tuy nhiên, do không thuộc diện lao động chính thức, anh không được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và cũng không được hưởng các chế độ bảo hiểm y tế. Một lần bị tai nạn giao thông nghiêm trọng trong khi giao hàng, anh phải tự chi trả toàn bộ chi phí điều trị và nghỉ làm gần 2 tháng, khiến gia đình anh rơi vào cảnh nợ nần chồng chất. Mặc dù Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 đã mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, nhưng với mức thu nhập bấp bênh và chi phí sinh hoạt ngày càng tăng, việc đóng bảo hiểm vẫn là một gánh nặng lớn đối với anh Minh và nhiều lao động tài xế công nghệ tự do đến từ các hãng xe công nghệ khác tại Việt Nam.

Để cải thiện chất lượng lao động và hệ thống an sinh xã hội, Việt Nam cần triển khai các giải pháp đồng bộ trong cả lĩnh vực giáo dục đào tạo và an sinh xã hội.

Thứ nhất, Việt Nam cần nhân rộng mô hình đào tạo kép, kết hợp lý thuyết và thực hành tại doanh nghiệp như tại Đức. Theo Nghị quyết số 99/NQ-CP (2021), việc tích hợp các kỹ năng hiện đại như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và dữ liệu lớn vào chương trình đào tạo là yếu tố cốt lõi để đáp ứng xu thế Cách mạng Công nghiệp 4.0. Bên cạnh đó, phát triển các nền tảng học trực tuyến và chương trình giáo dục mở theo Quyết định số 24/2021/QĐ-TTg sẽ giúp lao động nâng cao tay nghề mà không chịu áp lực tài chính.

Thứ hai, việc mở rộng bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Nghị quyết 28-NQ/TW là một bước đi cần thiết, với mục tiêu nâng tỷ lệ tham gia lên trên 50% vào năm 2025. Đồng thời, các ứng dụng công nghệ như VssID cần được cải thiện để dễ sử dụng hơn, đặc biệt đối với lao động lớn tuổi hoặc ít tiếp xúc công nghệ. Ngoài ra, cần tăng cường hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương thông qua chính sách giáo dục và y tế miễn phí, theo Nghị định số 56/2017/NĐ-CP.

Việt Nam cũng có thể học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế để nâng cao hiệu quả của các giải pháp. Chính sách bảo hiểm y tế toàn dân của Nhật Bản đã giảm gánh nặng tài chính cho các hộ gia đình thu nhập thấp, đảm bảo quyền lợi an sinh xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân.

Trong khi đó, mô hình đào tạo kép của Đức không chỉ giảm tỷ lệ thất nghiệp thanh niên xuống mức dưới 5%, mà còn tạo ra lực lượng lao động tay nghề cao, đáp ứng tốt nhu cầu của các ngành công nghiệp hiện đại. Việc áp dụng các bài học này một cách phù hợp sẽ là chìa khóa để Việt Nam xây dựng một hệ thống lao động và an sinh xã hội bền vững, góp phần đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong tương lai.

Chất lượng lao động và hệ thống an sinh xã hội là hai yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, không chỉ cần đến sự cam kết mạnh mẽ từ chính phủ mà còn đòi hỏi sự tham gia tích cực của doanh nghiệp và toàn thể người dân. Với các giải pháp thiết thực và sự đồng lòng, Việt Nam hoàn toàn có thể biến những thách thức hiện tại thành cơ hội, xây dựng một nền kinh tế vững mạnh và một xã hội công bằng, thịnh vượng.

Việc tận dụng hiệu quả các chính sách như Chương trình số 08-CTr/TU, Nghị quyết 28-NQ/TW, hay Quyết định số 24/2021/QĐ-TTg, cùng với việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế, sẽ giúp Việt Nam nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng hệ thống an sinh toàn diện, và xây dựng một quốc gia thịnh vượng hơn.

Tác giả: Kiều Thị Hương

Tài liệu tham khảo

[1] Văn kiện Đại hội Đảng bộ thị xã Sơn Tây lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2020-2025 của BCH Đảng bộ thị xã Sơn Tây.

[2] Chương trình số 08-CTr/TU ngày 17/3/2021 của Thành ủy Hà Nội về phát triển hệ thống an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội, chất lượng cuộc sống của Nhân dân Thủ đô giai đoạn 2021-2025.

[3] Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 của Quốc hội.

[4] Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 của Quốc hội.

[5] Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội.

[6] Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 ngày 27/11/2014 của Quốc hội.

[7] Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14 ngày 30/3/2021 của Quốc hội.

[8] Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012; Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

[9] Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ngày 25/6/2013 của Quốc hội.

[10] Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09/12/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về ưu đãi người có công với cách mạng.

[11] Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.

[12] Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

[13] Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Người khuyết tật.

[14] Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng.

[15] Nghị định số 75/2021/NĐ-CP ngày 24/7/2021 của Chính phủ quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng.

[16] Nghị định số 77/2024/NĐ-CP ngày 01/7/2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2021/NĐ-CP ngày 24/7/2021 của Chính phủ quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 55/2023/NĐ-CP ngày 21/7/2023 của Chính phủ.

[17] Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

[18] Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em.

[19] Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.

[20] Nghị định số 152/2020/NĐ-CP ngày 30/12/2020 của Chính phủ quy định về Quản lý người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam; Nghị định số 70/2023/NĐ-CP ngày 18/9/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 152/2020/NĐ-CP ngày 30/12/2020 của Chính phủ quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.

[21] Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025.

[22] Nghị quyết số 99/NQ-CP ngày 30/8/2021 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2021 – 2026 thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021-2025.

[23] Quyết định số 24/2021/QĐ-TTg ngày 16/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm và quy trình xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2022 – 2025.

[24] Công văn số 1521/LĐTBXH-KHTC ngày 05/5/2020 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về việc Xây dựng kế hoạch phát triển ngành Lao động – Thương binh và Xã hội 5 năm 2021-2025.

[25] Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về lao động chưa thành niên.

[26] Thông tư số 02/2021/TT-BLĐTBXH ngày 24/6/2021 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

[27] Nghị quyết số 20/NQ-HĐND ngày 23/9/2021 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội về phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021-2025.

[28] Nghị quyết số 17/2021/NQ-HĐND ngày 08/12/2021 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội quy định một số chính sách đặc thù thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của thành phố Hà Nội giai đoạn 2022-2025.

[29] Nghị quyết số 09/2021/NQ-HĐND ngày 23/9/2021 của HĐND thành phố Hà Nội quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội và đối tượng bảo trợ xã hội của thành phố Hà Nội.

[30] Quyết định số 13/2021/QĐ-UBND ngày 05/9/2021 của UBND thành phố Hà Nội quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025.

[31] Quyết định số 23340/QĐ-SNV ngày 29/3/2024 của Sở Nội vụ Hà Nội về việc phê duyệt Đề án vị trí việc làm của các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc UBND thị xã Sơn Tây.

[32] Quyết định số 06/2022/QĐ-UBND ngày 21/11/2022 của UBND thị xã Sơn Tây quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã Sơn Tây.


Bạn đang xem bài viết:
Chiến lược nâng cao chất lượng lao động và an sinh xã hội
Link https://vnlibs.com/lao-dong/chien-luoc-nang-cao-chat-luong-lao-dong-va-an-sinh-xa-hoi.html

Hashtag: #LaoĐộng #AnSinhXãHội #NângCaoChấtLượngLaoĐộng #HộiNhậpKinhTế #CáchMạngCôngNghiệp4.0 #vnlibs #laodong

Từ khóa: “chất lượng lao động”; “an sinh xã hội”; “nâng cao kỹ năng nghề”; “bảo hiểm xã hội tự nguyện”; “giáo dục nghề nghiệp”; “trí tuệ nhân tạo”; “Internet vạn vật”; “dữ liệu lớn”; “Cách mạng Công nghiệp 4.0”

Mọi người cũng hỏi: “Chất lượng lao động ảnh hưởng thế nào đến kinh tế quốc gia?”; “Việt Nam cần làm gì để cải thiện hệ thống an sinh xã hội?”; “Giải pháp nào để nâng cao kỹ năng nghề cho lao động Việt Nam?”; “Làm thế nào để tăng tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện?”; “Chính sách giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam có hiệu quả không?”; “Thực trạng an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay”; “Các chính sách an sinh xã hội hiện nay”; “Các chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam”; “Bài tham luận về công tác an sinh xã hội”; “Ví dụ về an sinh xã hội”; “Một trong những mục tiêu của chính sách an sinh xã hội về bảo hiểm nhằm giúp người dân”; “an sinh xã hội, bảo gồm những gì”; “Đối với sự phát triển kinh tế – xã hội việc thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội sẽ góp phần”; “Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách an sinh xã hội”; “Định hướng Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2021- 2030”; “An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; “Thực hiện chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi”; “Bảo đảm an sinh xã hội cho lao động khu vực phi chính thức”; “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội”; “Chất lượng lao động ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất”; “Chiến lược hội nhập quốc tế về lao động và xã hội”; “Bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động trên địa bàn”