Tỷ lệ thất nghiệp thấp và nguồn lao động dồi dào có ý nghĩa gì đối với áp lực tăng lương?

Đinh Tiến Dũng
26 phút đọc
Tỷ lệ thất nghiệp thấp và nguồn lao động dồi dào có ý nghĩa gì đối với áp lực tăng lương?
Tỷ lệ thất nghiệp thấp và nguồn lao động dồi dào có ý nghĩa gì đối với áp lực tăng lương?

Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đồng euro đang ở mức thấp kỷ lục và dự kiến ​​sẽ tiếp tục giảm. Tuy nhiên, tăng trưởng tiền lương được dự báo sẽ chậm lại. Đó có phải là nghịch lý hay không?

Tuy nhiên, không hẳn như vậy, nếu như bạn nhìn xa hơn vấn đề thất nghiệp và nhập cư, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động, chuyển đổi công việc và ý định tuyển dụng của các doanh nghiệp đều là một phần của bức tranh tổng thể của toàn thế giới, không chỉ riêng ở khu vực Châu Âu.

Tình trạng dư thừa lao động trên thị trường là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá chính sách tiền tệ về tăng trưởng tiền lương và lạm phát. Tuy nhiên, bạn cần biết rõ thêm khi đọc bài đăng này trên VNLibs.com, vì chúng ta chỉ tập trung vào tình trạng dư thừa lao động trên thị trường. Để đơn giản hóa, bài viết bỏ qua các yếu tố sản xuất khác (ví dụ: vốn, năng suất) và sự tương tác của chúng với yếu tố lao động.

Vấn đề nằm ở sự cân bằng giữa nguồn cung lao động hiệu quả và nhu cầu lao động của các doanh nghiệp. Trong khi tỷ lệ thất nghiệp theo truyền thống được sử dụng như chỉ số trung tâm về tình trạng dư thừa lao động trong các cuộc thảo luận chính sách.

Tại khu vực đồng euro, tỷ lệ này đã ở mức thấp kỷ lục trong một thời gian dựa theo báo cáo chi tiết đến từ "Khảo sát lực lượng lao động, quan sát mới nhất: Quý 3 năm 2025" nguồn Eurostat. Dự kiến ​​tỷ lệ này sẽ còn giảm hơn nữa trong ba năm tới. Trong thời gian cùng kỳ, tốc độ tăng trưởng tiền lương cũng được dự báo sẽ chậm lại. Sự kết hợp này có vẻ khó hiểu vì mối quan hệ đường cong Phillips cổ điển dự đoán rằng tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn sẽ khiến các doanh nghiệp tăng lương để thu hút người lao động.

Chính vì thế, bài viết này sẽ xem xét kỹ hơn cơ chế thị trường lao động để hiểu rõ sự kết hợp giữa tỷ lệ thất nghiệp thấp và dự báo về sự giảm tốc độ tăng lương. Chúng tôi cho rằng việc chỉ tập trung vào tỷ lệ thất nghiệp là chưa đủ và có thể gây hiểu lầm. Đôi khi, tỷ lệ thất nghiệp phản ánh không chính xác sự cân bằng cung cầu, đặc biệt khi cung và cầu lao động điều chỉnh theo nhiều yếu tố khác, và những yếu tố này ngày càng trở nên quan trọng hơn trong những năm gần đây.

Lực lượng lao động đang tăng lên.

Các doanh nghiệp đã đáp ứng nhu cầu về lao động bổ sung của họ như thế nào theo thời gian? Theo dữ liệu báo cáo nghiên cứu trong "Khảo sát lực lượng lao động" của Eurostat, trung bình trượt bốn quý của những thay đổi trong ba năm về việc làm và sự đóng góp của những thay đổi về di cư, những thay đổi trong lực lượng lao động trong nước (nữ và nam được hiển thị riêng) và những thay đổi về tỷ lệ thất nghiệp.

Những thay đổi âm về tỷ lệ thất nghiệp cho thấy, nhìn chung thay đổi trung bình trong ba năm; tính bằng triệu nhân viên bao gồm có những đóng góp tích cực vào việc làm. Tuy nhiên, vấn đề tăng trưởng việc làm có thể được phân tích thành sự thay đổi về tỷ lệ thất nghiệp và số người gia nhập lực lượng lao động.

Sau khi phục hồi từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ công, số người thất nghiệp vẫn là yếu tố điều chỉnh quan trọng. Tuy nhiên, sau đại dịch, số người thất nghiệp không còn thay đổi nhiều nữa. Vậy thì 6 triệu việc làm bổ sung trong ba năm qua đã được lấp đầy như thế nào?

Nhìn chung, số người thất nghiệp chỉ đóng góp khoảng 500.000 việc làm vào tổng số 6 triệu việc làm được tạo ra trong giai đoạn này. Ngược lại, hơn 3 triệu việc làm bổ sung được tạo ra bởi những người nhập cư vào khu vực đồng euro.

Khoảng 2,5 triệu việc làm nữa được đảm nhiệm bởi những công dân trước đây không hoạt động – những người chưa từng tìm kiếm việc làm. Càng bất ngờ hơn khi nhìn vào báo cáo trong số 2,5 triệu người tham gia thị trường lao động thì có 60% là phụ nữ. Điều này có làm bạn ngạc nhiên hay không?

Phải thừa nhận rằng, cả sự gia tăng tỷ lệ tham gia của phụ nữ và nhập cư ròng đều đã hỗ trợ tăng trưởng việc làm trước đây. Nhưng đóng góp của chúng trong những năm gần đây mạnh mẽ hơn nhiều so với bình thường. Lao động nước ngoài đóng góp khoảng 53% vào việc tạo việc làm, so với 29% trong giai đoạn 2015-2019.

Tương tự, số lượng người lao động trong nước tham gia lực lượng lao động cũng tăng lên, đóng góp 43% vào việc tạo việc làm, so với mức tăng 9% trong giai đoạn 2015-2019. Và đóng góp từ nhóm người thất nghiệp cũng không phải lúc nào cũng không đáng kể trong quá khứ - đây từng là yếu tố đóng góp chính (63%) vào việc lấp đầy các vị trí việc làm trong giai đoạn 2015-2019.

Đồng thời, tỷ lệ tham gia lao động của người lao động lớn tuổi đã tăng lên đáng kể theo thời gian. Với tuổi thọ ngày càng tăng, người lao động có xu hướng bắt đầu nghỉ hưu muộn hơn. Kể từ quý 3 năm 2022, tỷ lệ tham gia lao động của nhóm tuổi 55-74 đã tăng gần 1,7 điểm phần trăm.

So với các thế hệ trước, hơn 1,5 triệu người lao động lớn tuổi khác vẫn là một phần tích cực của lực lượng lao động. Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn mới. Sự gia tăng tham gia đã được thấy rõ trong những năm trước đại dịch, khi tỷ lệ tham gia lao động của người lớn tuổi tăng 3,2 điểm phần trăm (2016-2019).

Bằng chứng này cho thấy, mặc dù vai trò của những thay đổi về tỷ lệ thất nghiệp tương đối nhỏ, nhu cầu lao động của các doanh nghiệp vẫn được đáp ứng trong ba năm qua. Nó cũng chỉ ra tính linh hoạt đáng kể của biên độ lao động của người nước ngoài được thu hút vào thị trường lao động khu vực đồng euro và biên độ lao động của người bản địa vẫn có thể được huy động.

Do đó, nguồn cung lao động sẵn có lớn hơn so với những gì được thể hiện qua sự thay đổi về số người thất nghiệp. Điều này đã giúp giảm bớt tình trạng khan hiếm lao động và áp lực về tiền lương. Theo dự báo của Ủy ban châu Âu (European Commission - EU), trong những năm tới, các yếu tố này được kỳ vọng sẽ duy trì nguồn cung lao động linh hoạt và góp phần làm giảm áp lực thắt chặt thị trường.

Tuy nhiên, về lâu dài, sự già hóa dân số quốc gia có thể làm giảm lực lượng lao động ở khu vực đồng euro (khoảng 11 triệu người đến năm 2035), trừ khi có thể duy trì nhập cư ròng và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cao hơn. Bạn thử ngẫm nghĩ đến tương lai của bạn, liệu có nằm trong tỷ lệ đó hay không? Bạn hiểu ý mà tôi muốn nói đến rồi chứ!

Lao động bán thời gian và lao động thiếu việc làm

Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đồng euro hiện đã thấp và có thể tiếp tục giảm. Ở một số quốc gia, tỷ lệ này vẫn chưa đạt mức thấp nhất trong lịch sử. Hơn nữa, các cuộc cải cách cơ cấu trước đây ở các quốc gia thành viên có thể đã làm giảm tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu. Vậy ai khác có thể tham gia thị trường lao động?

Bên cạnh những người thất nghiệp, gần 7 triệu người trong khu vực đồng euro nhìn chung sẵn sàng làm việc, nhưng hiện tại họ hoặc không có việc làm hoặc không tích cực tìm kiếm việc làm (những người "có việc làm không ổn định"). Ví dụ, đó có thể là những người tạm thời chăm sóc người thân trong gia đình.

Thêm vào đó, khoảng 5 triệu người lao động đang làm việc dưới mức năng suất mong muốn, họ muốn làm việc nhiều giờ hơn so với hiện tại. Việc tăng số giờ làm việc của họ lên mức mong muốn sẽ tương đương với việc tạo ra thêm khoảng 2 triệu người lao động.

Trong giai đoạn gần đây tại nước Đức, theo báo cáo nghiên cứu "Phân tích đóng góp nhập cư và tăng tham gia" từ ECB, một phần lớn việc làm mới được lấp đầy bởi lao động nhập cư và người trước đó không hoạt động, làm giảm áp lực tăng lương dù tỷ lệ thất nghiệp thấp; điều này phù hợp với phân tích về đóng góp lớn của lao động nước ngoài và người được "kích hoạt" vào lực lượng lao động trong khu vực đồng euro.

Các nghiên cứu và báo cáo truyền thông trong "Phân tích EU về thất nghiệp ẩn và báo cáo truyền thông" của ECB tại thị trường Tây Ban Nha, chỉ ra rằng "hidden unemployment" (thất nghiệp ẩn / marginally attached) làm tăng đáng kể quy mô nguồn cung lao động thực tế so với con số thất nghiệp chính thức, khiến áp lực tiền lương dịu lại ở một số ngành.

Ở một số nước như Ba Lan và các nền kinh tế Trung Âu, theo "Số liệu và phân tích về tăng tham gia nhóm tuổi lớn hơn" của ECB , tăng tỷ lệ tham gia của nhóm 55–74 tuổi và dòng lao động di cư từ các nước láng giềng đã bổ sung hàng trăm nghìn lao động, góp phần giải tỏa căng thẳng thị trường lao động.

Trên là 3 ví dụ điển hình tại Đức, Tây Ban Nha và Ba Lan cũng như các quốc gia trong nền kinh tế Trung Âu, thế còn khu vực Châu Á thì sao? Theo báo cáo nghiên cứu "Nguồn tham khảo chính sách lao động châu Á và OECD/ILO", quốc gia Nhật Bản có tỷ lệ già hóa dân số làm giảm lực lượng lao động nội địa; để bù đắp, Nhật Bản tăng sử dụng lao động lớn tuổi và nhập cư có kiểm soát - cơ chế này làm thay đổi cách thị trường phản ứng với thất nghiệp thấp và tiền lương.

Nghiên cứu và báo cáo chính thức về lao động lớn tuổi trong "Nghiên cứu của Korea Development Institute (KDI)" đã phân tích tình trạng và biện pháp cải cách cho người lao động trung niên và lớn tuổi, nêu rõ các chính sách khuyến khích tái tham gia thị trường lao động và những rào cản còn tồn tại. Tài liệu này hỗ trợ luận điểm rằng tăng tham gia của nhóm lớn tuổi là một kênh quan trọng bù đắp thiếu hụt lao động nội địa.

Các báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund - IMF) và các phân tích tương tự chỉ ra rằng chính sách thúc đẩy "healthy aging" và tăng tỷ lệ tham gia có thể làm tăng cung lao động mà không nhất thiết gây áp lực lương tương xứng, do đặc thù kỹ năng, giờ làm và phân bổ ngành nghề.

Ngoài ra, báo cáo chính thức về lực lượng lao động 2024 tại "Labour Force in Singapore 2024 (Manpower Research & Statistics Department)" tại đảo quốc Singapore còn cho thấy tỷ lệ tham gia tăng ở nhóm người cao tuổi và nữ, đồng thời ghi nhận mức under‑utilisation thấp; báo cáo cũng phân tích vai trò lao động di cư trong cấu trúc việc làm. Điều này minh họa cơ chế tương tự: mở rộng cung lao động qua tăng tham gia và di cư mà không tạo ra áp lực lương mạnh.

Đối với Việt Nam, dựa vào báo cáo phân tích thị trường lao động "Vietnamese Labor Market 2024" và "Dữ liệu Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO - International Labour Organization) và Ngân hàng Thế giới (The World Bank) về tỷ lệ tham gia nữ và tổng Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (LFPR - Labor Force Participation Rate)", cũng như báo cáo chi tiết từ bảng số liệu về việc làm, việc làm phi chính thức, di cư lao động nội địa/ngoài nước của Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO - General Statistics Office of Vietnam).

Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp chính thức tại Việt Nam không cao, nguồn cung lao động "ẩn" (người muốn làm thêm giờ hoặc chưa tham gia tích cực) cùng với di cư nội‑ngoại và tỷ lệ tham gia nữ cao đã góp phần mở rộng lực lượng lao động thực tế - điều này có thể làm dịu áp lực tiền lương theo ngành, tương tự cơ chế mà ECB mô tả.

Những thay đổi công việc cho chúng ta biết điều gì về sự gắn kết.

Số lượng người lao động đang làm việc nhưng chuyển việc cũng là một chỉ báo quan trọng về tình trạng dư thừa lao động và áp lực tăng lương. Khi các công ty gặp khó khăn hơn trong việc tuyển dụng thêm nhân viên, họ thường bắt đầu "săn" người lao động hiện có.

Họ đưa ra các điều kiện làm việc tốt hơn, bao gồm cả mức lương cao hơn, để khuyến khích người lao động chuyển việc. Số lượng người lao động chuyển việc thay đổi đáng kể theo chu kỳ kinh doanh. Con số này thường nằm trong khoảng từ 4 đến 7 triệu người mỗi năm (3% đến 5%).

Hiện tại, chúng ta thấy rằng số lượng người lao động chuyển việc đang giảm. Theo báo cáo "Khảo sát Kỳ vọng Người tiêu dùng" của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cung cấp dữ liệu hàng quý cập nhật về việc chuyển việc và cho thấy rằng việc chuyển đổi công việc đã giảm tốc độ trong các quý trước. Điều này có thể phản ánh thực tế là sự sẵn lòng của các công ty trong việc đưa ra các điều kiện làm việc tốt hơn đã giảm và nhiều người lao động thích ở lại vị trí hiện tại hơn, và điều đó cho thấy thị trường lao động đang bớt khan hiếm hơn.

Các xu hướng cấu trúc cũng đóng vai trò quan trọng, được nhìn thấy qua các số liệu báo cáo hàng nằm đã cho thấy một xã hội già hóa ở châu Âu đang có tỷ lệ người lao động lớn tuổi tăng lên hàng năm, khiến thay đổi thị trường lao động trở nên nghiêm trọng hơn. Để khắc phục điều này, các hệ thống an sinh xã hội ở châu Âu với sự bảo vệ việc làm mạnh mẽ và các thỏa ước tập thể đã giúp bảo vệ những người lao động có thâm niên lâu năm khỏi bị sa thải.

Trong dữ liệu báo cáo "Khảo sát thu nhập có cấu trúc (SES), Arlia và cộng sự (2025)" của Eurostat đã sử dụng tính toán của IAB, Ministryio de Inclusión, Seguridad Social y Migraciones, Insee và ECB. Cho thấy kết quả thị trường lao động theo nhóm tuổi, có tỷ lệ thất nghiệp (trung bình 2022-2025), tỷ lệ chuyển đổi việc làm (trung bình 2019-2021).

Thời gian làm việc (trung bình 2022-2024); tăng trưởng tiền lương: tăng trưởng trung bình hàng năm của thu nhập theo giờ (2014-2022). Đối với tăng trưởng tiền lương, các nhóm tuổi được phân loại trong SES có sự khác biệt nhỏ: trẻ (dưới 30 tuổi), độ tuổi lao động chính (30-49 tuổi), người lớn tuổi (trên 50 tuổi). Những người có thâm niên lâu năm có nguy cơ bị sa thải thấp hơn.

Trong ba năm qua, tỷ lệ thất nghiệp của người lao động lớn tuổi (ở mức 4,5%) thấp hơn đáng kể so với người trong độ tuổi lao động chính (6%) hoặc người trẻ (khoảng 14,6%), họ cũng ít có khả năng tìm kiếm một công việc mới hơn. Tỷ lệ chuyển đổi công việc hàng năm giảm dần theo độ tuổi từ khoảng 6,5% đến 2% tổng số người lao động.

Điều này ngụ ý rằng người lao động lớn tuổi cũng ít có khả năng đàm phán lại tiền lương của họ. Trên thực tế, mức tăng trưởng tiền lương theo giờ hàng năm thấp nhất đối với nhóm tuổi của người lao động lớn tuổi. Nhìn chung, tỷ lệ chuyển đổi việc làm thấp hơn, cả về mặt chu kỳ và cơ cấu, sẽ cho thấy thị trường lao động đang giảm bớt sự khan hiếm lao động và áp lực về tiền lương khi lực lượng lao động dần già đi.

Vai trò của nhu cầu lao động của các doanh nghiệp.

Khi chúng ta chỉ nhìn vào nguồn cung lao động sẽ bỏ qua nhu cầu cần thêm nhân công của các doanh nghiệp. Trong khi đó, nhu cầu lao động thấp hơn không phải lúc nào cũng dẫn đến nhiều đợt sa thải và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn. Đôi khi, các doanh nghiệp có thể tích trữ lao động để tạm thời vượt qua những tình huống khó khăn.

Theo dữ liệu đến từ Văn phòng Thống kê Châu Âu (Eurostat) là một tổng cục thuộc Ủy ban Châu Âu, có trụ sở tại Luxembourg, chuyên thu thập, phân tích và công bố dữ liệu thống kê chính thống về Liên minh Châu Âu (EU) và các khu vực thành viên, đã cho thấy mối quan hệ giữa nhu cầu lao động của các doanh nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp thông qua biểu đồ Đường cong Beveridge (Beveridge Curve) - một khái niệm kinh tế học dùng để mô tả mối quan hệ giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ việc làm còn trống.

Trong thời kỳ suy thoái kinh tế mạnh, các công ty điều chỉnh số lượng nhân viên một cách quyết liệt hơn. Điều này được phản ánh qua sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Đại dịch COVID-19, là một ví dụ gần đây. Khi đại dịch COVID-19 bùng phát, các doanh nghiệp ngừng tuyển dụng (tỷ lệ việc làm trống giảm) và số người mất việc tăng vọt.

Đỉnh điểm là vào 2020, tỷ lệ thất nghiệp lên cao nhất (gần 9%) trong khi nhu cầu tuyển dụng xuống rất thấp. Tuy nhiên, khi đối mặt với sự suy giảm nhẹ, các công ty có thể chỉ đơn giản là ưu tiên tuyển dụng ít hơn hoặc không thay thế nhân viên nghỉ hưu, mà không nhất thiết phải sa thải người.

Đến 2022, tỷ lệ việc làm trống đạt đỉnh (khoảng 3.3%), trong khi thất nghiệp giảm mạnh xuống còn khoảng 6.8%. Đây là giai đoạn thị trường lao động cực kỳ "căng thẳng" (tight labor market), các doanh nghiệp rất khó tìm được nhân viên. Các công ty đăng ít vị trí tuyển dụng hơn mà không sa thải người và do đó không gây ra sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.

Giai đoạn vào năm 2025 khi thị trường hạ nhiệt và ổn định trở lại. Tỷ lệ việc làm trống giảm dần (từ 3.3% xuống còn khoảng 2.2% vào 2025). Điều này cho thấy cơn sốt tuyển dụng đã qua đi, doanh nghiệp cẩn trọng hơn. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là tỷ lệ thất nghiệp vẫn tiếp tục giảm (xuống mức thấp kỷ lục khoảng 6.4%).

Điều này đã cho thấy cho thấy thị trường lao động đang trở nên hiệu quả hơn. Xã hội đang ở trạng thái mà tỷ lệ thất nghiệp thấp nhưng áp lực tuyển dụng của doanh nghiệp cũng không còn quá "nóng" như thời điểm ngay sau dịch.

Nền kinh tế đang ở trạng thái khá tích cực: ít người thất nghiệp hơn so với trước đại dịch, và thị trường lao động đang tìm thấy điểm cân bằng mới bền vững hơn. Nhưng khi ngồi lại phân tích các yếu tố một cách có logic, nếu các yếu tố khác không đổi, sẽ dẫn đến áp lực tiền lương thấp hơn so với mức thất nghiệp thấp kỷ lục hiện tại.

Nhu cầu lao động giảm không chỉ thể hiện ở việc tuyển dụng ít hơn mà còn ở số giờ làm việc trung bình thấp hơn. Thực tế, hơn 80% các công ty thích ứng với sự biến động về nhu cầu sản phẩm bằng cách điều chỉnh giờ làm việc của nhân viên. Lấy ví dụ chu kỳ kinh doanh trước đại dịch (2013-2019). Từ đáy đến đỉnh điểm, người dân khu vực đồng euro làm việc nhiều hơn khoảng năm giờ mỗi quý.

Phương pháp tính toán này sử dụng độ lệch so với xu hướng (tuyến tính). Nó so sánh khoảng cách so với xu hướng trong quý đầu tiên năm 2013 với quý thứ tư năm 2019, được báo cáo theo chu kỳ kinh doanh được xác định bởi Ủy ban Xác định Chu kỳ Kinh doanh Khu vực Đồng Euro của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR - Center for Economic and Policy Research). Tổ chức này chuyên nghiên cứu, phân tích các vấn đề kinh tế - xã hội theo khuynh hướng cánh tả.

Điều này nghe có vẻ không nhiều. Nhưng nếu tính theo số lượng việc làm toàn thời gian tương đương, thì đó là sự khác biệt của 2,2 triệu việc làm. Ngoài ra, trong thời kỳ đại dịch, số giờ làm việc trên mỗi nhân viên đã giảm đáng kể và vẫn thấp hơn mức trước đại dịch.

Tuy nhiên, gần đây số giờ làm việc đã bắt đầu tăng trở lại. Đây là dấu hiệu cho thấy tình trạng tích trữ lao động của các doanh nghiệp, vốn rất cao trong thời kỳ đại dịch và cú sốc giá năng lượng, đã giảm. Giờ làm việc là một yếu tố khác mà các doanh nghiệp có thể sử dụng để tăng hiệu quả lao động mà không nhất thiết phải gây thêm áp lực lên tiền lương.

Bên cạnh khía cạnh chu kỳ, số giờ làm việc trung bình ở khu vực đồng euro cũng thấp hơn về mặt cấu trúc so với các nơi khác, chẳng hạn như Hoa Kỳ. Điều này cũng phản ánh xu hướng làm việc ít giờ hơn mỗi tuần ở châu Âu. Trong khi khu vực đồng Euro có xu hướng giảm giờ làm để tối ưu hóa sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, thì Châu Á lại nằm ở cực đối lập hoàn toàn.

Nếu ví cấu trúc giờ làm việc của Châu Âu là một "đường dốc đi xuống", thì Châu Á lại là khu vực có số giờ làm việc trung bình cao nhất thế giới. Dựa trên các báo cáo mới nhất từ ILO và các tổ chức thống kê lao động, chúng ta có thể thấy sự phân hóa rõ rệt:

Bảng 1: Bức tranh tương quan (Dữ liệu 2025 - 2026).
Khu vực Số giờ làm việc trung bình/tuần Đặc điểm chính
Eurozone 30 - 35 giờ Chú trọng hiệu suất, nghỉ lễ dài, công việc bán thời gian phổ biến.
Châu Đại Dương (Úc, NZ) 33 - 37 giờ Tương đồng với Châu Âu; luật lao động nghiêm ngặt và tỷ lệ làm việc bán thời gian cao.
Hoa Kỳ 37 - 39 giờ Tiêu chuẩn 40 giờ nhưng thực tế linh hoạt hơn nhờ kinh tế số.
Châu Mỹ Latinh 40 - 45 giờ Các nước như Mexico, Colombia có số giờ làm thuộc hàng cao nhất thế giới; đang có xu hướng cải cách giảm giờ làm (như Chile).
Châu Phi 42 - 46 giờ Tỷ trọng lớn lao động trong khu vực phi chính thức và nông nghiệp; thời gian làm việc kéo dài để bù đắp thu nhập thấp.
Châu Á 44 - 50+ giờ Văn hóa làm thêm giờ, sản xuất thâm dụng lao động chiếm tỷ trọng lớn.

Một vài lưu ý quan trọng về sự khác biệt này:

  • Sự phân cực giàu - nghèo: Có một mối tương quan nghịch rõ rệt giữa thu nhập bình quân đầu người và số giờ làm việc. Các quốc gia giàu có hơn thường có xu hướng "mua" lại thời gian rảnh rỗi thông qua năng suất lao động cao.
  • Xu hướng cải cách tại Mỹ Latinh: Năm 2025-2026 chứng kiến làn sóng cắt giảm giờ làm việc chính thức từ 48 giờ xuống 40-42 giờ tại nhiều quốc gia Nam Mỹ để cải thiện sức khỏe tinh thần cho người lao động.
  • Khu vực phi chính thức: Ở Châu Phi và một phần Châu Á, số giờ làm thực tế thường cao hơn số liệu thống kê chính thức do phần lớn lao động làm việc tự do hoặc trong các hộ gia đình không có hợp đồng giới hạn giờ làm.

Các yếu tố cấu trúc duy trì cường độ lao động cao tại Châu Á.

Khác biệt cốt lõi khiến thời gian làm việc tại Châu Á luôn duy trì ở mức cao so với sự tinh gọn của Châu Âu nằm ở nền móng cấu trúc kinh tế. Trong khi khu vực đồng Euro đã chuyển dịch mạnh mẽ sang nền kinh tế tri thức và dịch vụ cao cấp, nhiều quốc gia Châu Á như Việt Nam, Ấn Độ hay Bangladesh vẫn lấy sản xuất công nghiệp và gia công làm trọng tâm.

Tại các công xưởng này, lợi nhuận thường tỷ lệ thuận trực tiếp với thời gian vận hành máy móc, biến sức người thành yếu tố then chốt để đảm bảo sản lượng. Áp lực này càng trở nên nặng nề hơn khi đặt cạnh một hệ thống an sinh xã hội và vai trò của các tổ chức công đoàn còn khá khiêm tốn.

Thiếu đi một "lưới đỡ" tài chính vững chắc như tại Châu Âu, người lao động Châu Á thường rơi vào tình thế buộc phải tăng ca để tích lũy thu nhập, coi việc làm thêm giờ là phương thức duy nhất để đảm bảo an toàn kinh tế cho gia đình. Bên cạnh những con số kinh tế, văn hóa "diện mạo" và lòng trung thành cũng đóng vai trò như một sợi dây vô hình thắt chặt giờ làm. Tại các cường quốc Đông Á, công việc không chỉ là sinh kế mà còn là thước đo đạo đức và sự cống hiến.

Điển hình như văn hóa "996" tại Trung Quốc, dù vấp phải nhiều tranh cãi, vẫn âm thầm bám rễ trong các tập đoàn công nghệ như một biểu tượng của tinh thần khởi nghiệp quyết liệt. Tương tự, tại Nhật Bản và Hàn Quốc, tình trạng "làm việc trình diễn" - nơi nhân viên không dám rời văn phòng trước sếp - đã tạo ra những nghịch lý về hiệu suất: người lao động có thể ngồi tại bàn làm việc rất lâu nhưng thực chất sự mệt mỏi đã triệt tiêu khả năng sáng tạo.

Dù có chung đặc điểm là giờ làm cao, nhưng bức tranh lao động Châu Á thực tế lại là một tập hợp của những mảng màu đối lập. Ở một cực, các quốc gia như Bhutan vẫn đang duy trì cường độ làm việc ở mức "cực độ" với hơn 54 giờ mỗi tuần, phản ánh một nền kinh tế thâm dụng lao động thủ công sâu sắc.

Ngay cả Trung Quốc, dù đã có những nỗ lực điều chỉnh, vẫn giữ mức trung bình khoảng 48 giờ vào đầu năm 2026. Những con số này minh chứng cho một giai đoạn phát triển mà ở đó, sự tăng trưởng quốc gia vẫn đang được đặt lên vai của những người lao động làm việc không ngơi nghỉ.

Tuy nhiên, ở cực bên kia, một làn sóng cải cách đang lan tỏa mạnh mẽ tại Nhật Bản và Hàn Quốc. Đứng trước những hệ lụy nhãn tiền như tình trạng kiệt sức (burnout) và tỷ lệ sinh sụt giảm nghiêm trọng, chính phủ các nước này đang dùng luật pháp để cưỡng bách việc cắt giảm giờ làm, nỗ lực kéo con số này về mức tiệm cận với Hoa Kỳ.

Trong khi đó, Việt Nam đang đứng ở một vị trí chuyển tiếp khá đặc biệt. Với số giờ chính thức dao động quanh mức 41-42 giờ/tuần, Việt Nam có vẻ "dễ thở" hơn trên giấy tờ. Thế nhưng, thực tế tại các khu công nghiệp và trong nền kinh tế tự do lại cho thấy một kịch bản khác, nơi nhu cầu tăng ca để bù đắp chi phí sinh hoạt vẫn là một thực tế phổ biến, tạo nên một khoảng cách đáng kể giữa quy định pháp luật và đời sống lao động thực tế.

Kết luận

Đánh giá tình trạng dư thừa lao động trên thị trường cần một góc nhìn rộng hơn so với chỉ số thất nghiệp. Cần phải xem xét cả động lực cung và cầu trên toàn bộ phạm vi thị trường lao động. Cung lao động có thể thay đổi do di cư, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động, sử dụng lao động không hiệu quả và số giờ làm việc, trong khi cầu lao động có thể suy yếu mà không dẫn đến sa thải.

Tầm quan trọng ngày càng tăng của các kênh điều chỉnh rộng hơn này giúp giải thích tại sao tăng trưởng tiền lương có thể tiếp tục giảm ngay cả khi tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức thấp kỷ lục. Tình huống này, phù hợp với các dự báo kinh tế vĩ mô của Hệ thống Euro, phản ánh thực tế rằng thị trường lao động không quá khan hiếm như chỉ số thất nghiệp đơn thuần cho thấy.


Nội dung bản quyền bởi: Oscar Arce, David Sondermann

Tags: yếu tố làm dịu áp lực tiền lương ở euro area ảnh hưởng nhập cư tới áp lực tiền lương đồng euro tại sao thất nghiệp thấp không làm tăng lương ở châu Âu hệ quả cho chính sách tiền tệ khi lao động dồi dào mối liên hệ giữa job-to-job transitions và wage growth tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở thành thị so với ở nông thôn
Đinh Tiến Dũng Tác giả đã xác minh

Chuyên gia Kinh tế Vĩ mô Toàn cầu và Chính sách Tiền tệ

Một nhà phân tích sắc bén về các chính sách tiền tệ và thị trường ngoại hối. Ông chuyên phân tích chính sách của các ngân hàng trung ương lớn như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB)