Đại dương suy thoái ảnh hưởng ra sao đến ổn định giá cả và chính sách tiền tệ

Đinh Tiến Dũng
18 phút đọc
Đại dương suy thoái ảnh hưởng ra sao đến ổn định giá cả và chính sách tiền tệ
Đại dương suy thoái ảnh hưởng ra sao đến ổn định giá cả và chính sách tiền tệ

Tại sao đại dương khỏe mạnh đóng vai trò thiết yếu đối với nền kinh tế của chúng ta? Có đúng khi thực hiện ngăn chặn sự suy thoái môi trường biển sẽ bảo vệ các ngành công nghiệp như đánh bắt cá và du lịch, đồng thời giúp chống lại biến đổi khí hậu. Và đâu là những hành động cần thực hiện và lý do tại sao những thách thức này lại quan trọng đối với các ngân hàng trung ương?

Bạn có biết hiện nay đại dương bao phủ hơn 70% bề mặt Trái đất. Tuy nhiên, tầm quan trọng của chúng đối với nền kinh tế và cả sự sống trên hành tinh này vẫn chưa được đánh giá đúng mức. Trong khi nền kinh tế biển, bao gồm ngành thủy sản, du lịch và các ngành công nghiệp ven biển, ước tính chiếm tới 5% tổng dịch vụ và sản phẩm toàn cầu.

Những giá trị thiết yếu mà đại dương cung cấp cho xã hội đồng thời là nền tảng cho sức khỏe hành tinh và cho đa dạng sinh học. Có lẽ đây là một trong những chức năng quan trọng nhất của chúng trong bối cảnh khủng hoảng khí hậu hiện nay, vì chúng hấp thụ nhiệt và khí carbon dioxide từ khí quyển, giúp giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu.

Tuy nhiên, việc khai thác quá mức, sự nóng lên toàn cầu, ô nhiễm và suy thoái môi trường sống đang đe dọa những lợi ích này. Khi áp lực môi trường gia tăng, sự gián đoạn đối với nguồn cung cấp thực phẩm, vận tải và bảo vệ bờ biển có thể trở nên thường xuyên và kéo dài hơn.

Đây chính là cái nhìn tổng quan tại VNLibs.com khi chia sẻ về lý do tại sao đại dương khỏe mạnh lại quan trọng đến vậy, tại sao điều này lại có ý nghĩa đối với các ngân hàng trung ương và những hành động cần thực hiện.

Đại dương: động lực của nền kinh tế và nguồn sinh kế, lương thực.

Trong 25 năm qua, nền kinh tế biển đã tăng gấp đôi quy mô, đạt khoảng 2,3 nghìn tỷ euro, với phần lớn sự tăng trưởng đến từ châu Á và Thái Bình Dương. Vận tải đường biển chiếm khoảng 80% tổng khối lượng thương mại quốc tế. Nhìn chung, nền kinh tế biển đã vượt trội so với tăng trưởng toàn cầu trong những thập kỷ gần đây.

Trong 25 năm qua, quy mô nền kinh tế biển đã tăng gấp đôi, đạt khoảng 2,3 nghìn tỷ euro, với phần lớn tăng trưởng đến từ khu vực Châu Á và Thái Bình Dương. Vận tải đường biển hiện chiếm khoảng 80% tổng khối lượng thương mại quốc tế, góp phần quan trọng vào thương mại toàn cầu. Nhìn chung, nền kinh tế biển đã tăng trưởng nhanh hơn mức tăng trưởng toàn cầu trong những thập kỷ gần đây.

Tại "Liên minh châu Âu" (EU - European Union), các doanh nghiệp liên quan đến đại dương tạo ra khoảng 251 tỷ euro giá trị gia tăng gộp (GVA - Gross Value Added), chiếm khoảng 1,7% tổng GVA của EU và đóng góp khoảng 2,4% tổng việc làm.

Năng lượng tái tạo ngoài khơi là một trong những lĩnh vực phát triển nhanh nhất ở EU và nổi bật trong cơ cấu này. Công nghệ sinh học biển, dù hiện còn có quy mô thị trường nhỏ, được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh khi các đổi mới trong thực phẩm, dược phẩm và vật liệu có nguồn gốc từ biển được thúc đẩy nhanh.

Nhưng những lợi ích kinh tế này đang gặp rủi ro rất lớn, khi đánh bắt quá mức và phá hủy môi trường sống đã làm suy giảm nhiều nguồn cá. Hơn nữa, hiện tượng ấm lên toàn cầu đang diễn ra cũng góp phần làm giảm đáng kể số lượng sinh vật biển.

Chính vì thế mà "Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế" (IUCN - International Union for Conservation of Nature) ước tính rằng 10% các loài sinh vật biển đang có nguy cơ tuyệt chủng. Riêng tại EU, khoảng 40% quần thể cá được đánh giá đang ở trong tình trạng không tốt hoặc không bền vững.

Đại dương đóng vai trò then chốt trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu.

Đại dương là một trong những lá chắn mạnh mẽ nhất của hành tinh giúp chống lại biến đổi khí hậu. Cho đến nay, chúng ta đã tập trung vào những lợi ích trực tiếp đang bị đe dọa. Tuy nhiên, các tác động gián tiếp tiềm tàng có thể lớn hơn nhiều khi tác động trực tiếp đến suy thoái hệ sinh thái đại dương mà bản thân chúng ta cũng không hề nắm rõ.

Kể từ cuộc Cách mạng Công nghiệp, chúng đã hấp thụ khoảng một phần ba tổng lượng khí thải carbon dioxide của con người và hơn 90% lượng nhiệt dư thừa bị giữ lại bởi khí nhà kính. Biến đổi khí hậu đang làm cho các đại dương trên hành tinh của chúng ta nóng lên nhanh chóng. Lúc này, đại dương giúp điều hòa khí hậu khu vực và giảm cường độ của các hiện tượng nhiệt độ cực đoan, nhưng khả năng giảm thiểu tác động vật lý này đang dần có giới hạn.

Thập kỷ vừa qua đã chứng kiến ​​nhiệt độ nước biển đạt mức cao kỷ lục, thậm chí đạt mức chưa từng có vào năm 2024. Sự nóng lên của đại dương làm suy giảm khả năng hấp thụ carbon dioxide, làm tăng mực nước biển do sự giãn nở nhiệt và làm thay đổi tương tác giữa đại dương và khí quyển theo những cách có thể làm gia tăng cường độ của một số hiện tượng thời tiết cực đoan.

Đáng chú ý, nhiệt độ bề mặt đại dương tăng cao có liên quan đến việc cường độ bão, lốc xoáy và lượng mưa cực đoan gia tăng. Nhiệt độ bề mặt đại dương toàn cầu đang ấm lên với tốc độ tăng gần đây được báo cáo lên tới khoảng 0,27°C mỗi thập kỷ, so với khoảng 0,06°C mỗi thập kỷ vào cuối thập niên 1980, cho thấy sự gia tốc đáng kể của ấm lên đại dương.

Từ năm 2023, nhiệt độ đại dương tăng cao bất thường đã khiến khoảng 80% rạn san hô trên thế giới phải đối mặt với tình trạng căng thẳng nhiệt dẫn đến hiện tượng tẩy trắng - sự kiện tẩy trắng toàn cầu lớn nhất từng được ghi nhận. Tình trạng suy thoái trên diện rộng này làm suy yếu khả năng bảo vệ bờ biển khỏi sóng và bão của các rạn san hô, làm tăng nguy cơ đối với các cộng đồng ven biển và cơ sở hạ tầng.

Sóng nhiệt biển đang trở nên thường xuyên và kéo dài hơn, với các phân tích toàn cầu cho thấy tần suất, cường độ và thời lượng sóng nhiệt biển đã tăng rõ rệt trong thế kỷ qua; một nghiên cứu tổng hợp cho biết ở mức trả về 100 năm, tần suất tăng khoảng 67%, cường độ tăng khoảng 23% và thời lượng tăng khoảng 137%. Những thay đổi này đã dẫn tới các sự kiện sóng nhiệt biển cực đoan lặp lại trong thập kỷ gần đây.

Hệ quả sinh thái là rõ rệt: sóng nhiệt biển và ấm lên bề mặt đã tàn phá rạn san hô (bleaching) và làm suy giảm rừng tảo bẹ, gây mất mát sinh cảnh, giảm năng suất ngư nghiệp và làm suy yếu khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển.

Đồng thời, hiện tượng axit hóa đại dương đã vượt quá giới hạn an toàn, ngày càng gây nguy hiểm cho các hệ sinh thái biển. Những tổn thất này có thể xảy ra nhanh hơn so với khả năng thích ứng của cộng đồng ven biển và các ngành phụ thuộc vào biển.

Khi đại dương hấp thụ nhiều khí carbon dioxide hơn, chúng trở nên axit hơn, gây nguy hiểm cho sinh vật biển và các dịch vụ hệ sinh thái mà nhân loại phụ thuộc vào. San hô nước lạnh, rạn san hô nhiệt đới và sinh vật biển vùng Bắc Cực đặc biệt dễ bị tổn thương. Nếu xu hướng này tiếp tục, đại dương cuối cùng có thể đảo ngược vai trò từ nơi hấp thụ carbon thành nơi phát thải carbon.

Năm 2024 là năm nóng nhất từng được ghi nhận đối với các đại dương toàn cầu, đẩy nhanh tốc độ mực nước biển dâng cao do sự giãn nở nhiệt và sự tan chảy của các sông băng và băng ở vùng cực. Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 21 cm kể từ năm 1900, và tốc độ tăng đang ngày càng nhanh.

Từ năm 2000, sự tan chảy của các sông băng và sự mất đi các tảng băng ở Greenland và Nam Cực đã trở thành những nguyên nhân chính gây ra mực nước biển dâng cao. Mức tăng khoảng 1,7 mm mỗi năm trong thế kỷ trước đã tăng hơn gấp đôi, lên hơn 3,7 mm mỗi năm.

Các nhà khoa học trên thế giới đã liên tục cảnh báo rằng nếu sự tan rã của các tảng băng tăng tốc, các kịch bản cực đoan về mực nước biển dâng cao hơn hai mét vào năm 2100 không thể bị loại trừ, và mức tăng trung bình hiện nay đã cao hơn dự kiến.

Mực nước biển dâng làm gia tăng nguy cơ lũ lụt và xói mòn ven biển, đe dọa các thành phố cảng và những quốc đảo thấp như Tuvalu. Trong khi Tuvalu là một quốc đảo nhỏ bé nằm ở khu vực Nam Thái Bình Dương, thuộc châu Đại Dương. Nằm giữa Hawaii và Úc, quốc gia này gồm 9 đảo san hô, được biết đến là một trong những nơi thấp nhất thế giới với điểm cao nhất chỉ khoảng 4,5m so với mực nước biển, có nguy cơ bị xóa sổ do biến đổi khí hậu.

Theo dự báo khu vực toàn cầu hiện nay đã ghi nhận mực nước biển trung bình đã tăng nhanh và đạt mức cao nhất trong kỷ lục vệ tinh vào 2024, với mức tăng khoảng 0,59 cm trong năm 2024 so với 2023; tốc độ dâng trong năm đó ước tính ~0,59 cm/năm (0,23 inch/năm), cao hơn dự kiến.

Các phân tích cho thấy >25% diện tích đất của Tuvalu có thể bị ngập mỗi 5 năm hiện nay do sóng và triều kết hợp; sự kiện lũ trong 50 năm hiện nay (>45% diện tích) có thể xảy ra thường xuyên hơn (hơn một lần mỗi 5 năm) vào khoảng 2060 do mực nước biển dâng.

Ngoài ra, nhiều cộng đồng ven biển khác (ví dụ ở Quần đảo Solomon, một số vùng ở Panama, và các khu vực ven biển của Hoa Kỳ và Pháp) đang lập kế hoạch hoặc xem xét phương án di dời, thích ứng cơ sở hạ tầng và bảo vệ bờ. Tại khu vực Carteret Islands (Papua New Guinea) cộng đồng đã thực hiện di dời có tổ chức do xói mòn và lũ lụt ven bờ.

Chính vì thế mà tác động tiềm tàng của những phát triển này là vô cùng lớn: 65% nền kinh tế toàn cầu nằm trong phạm vi 100 km tính từ bờ biển và 12 trong số 15 siêu đô thị lớn nhất thế giới nằm dọc theo các khu vực ven biển. Nếu không có các biện pháp thích ứng, mực nước biển dâng cao có thể gây thiệt hại cho riêng EU lên tới 500 tỷ euro mỗi năm đối với các dịch vụ tại các khu vực ven biển vào năm 2080.

Tại sao điều này lại quan trọng đối với các ngân hàng trung ương?

Lúc này, đại dương có vai trò quan trọng đối với sự ổn định giá cả, và điều này có thể sẽ càng trở nên rõ rệt hơn khi hệ sinh thái biển suy thoái. Áp lực lên hệ sinh thái biển và đại dương ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế trọng yếu. Điều này bao gồm nghề cá, nuôi trồng thủy sản, du lịch và vận tải biển, làm giảm sản lượng và việc làm, có thể làm tăng nguy cơ biến động giá cả đối với thực phẩm và hàng hóa xuất nhập khẩu.

Sự suy thoái của các hệ sinh thái ven biển cũng làm suy yếu khả năng tự bảo vệ trước bão và lũ lụt, đe dọa con người, gây thiệt hại cho cơ sở hạ tầng và ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính. Khi khả năng điều tiết khí hậu và thời tiết của đại dương giảm đi, các hiện tượng gây rối loạn liên quan đến khí hậu sẽ có xu hướng gia tăng.

Những tác động này có khả năng làm gia tăng thiệt hại kinh tế, làm tăng sự bất ổn kinh tế vĩ mô và có thể khiến việc giữ giá ổn định trở nên khó khăn hơn. Nếu đại dương mất khả năng hấp thụ khí carbon dioxide, việc giảm phát thải carbon sẽ đòi hỏi những khoản đầu tư tốn kém như công nghệ thu giữ carbon.

Bằng chứng cho thấy rằng khi chúng ta bỏ qua động lực nhiệt độ toàn cầu, bao gồm cả nhiệt độ bề mặt đại dương, chúng ta sẽ đánh giá thấp thiệt hại kinh tế liên quan đến biến đổi khí hậu từ năm đến sáu lần; một nghiên cứu cho rằng 1°C ấm lên toàn cầu tương ứng với ~12% sụt giảm GDP toàn cầu.

Một working paper của Bilal & Känzig (2024) sử dụng biến động nhiệt độ toàn cầu thay vì chỉ nhiệt độ địa phương và kết luận rằng thiệt hại kinh tế do biến đổi khí hậu có thể lớn hơn khoảng sáu lần so với ước tính trước đây; họ ước tính một độ C ấm lên toàn cầu liên quan tới giảm ~12% GDP thế giới trong mô hình của họ. Kết luận này xuất phát từ việc nhiệt độ toàn cầu bắt chéo mạnh với các sự kiện cực đoan, điều mà các ước tính dựa trên nhiệt độ địa phương thường bỏ sót.

Tại sao kết quả này liên quan đến nhiệt độ bề mặt đại dương? Nhiệt độ bề mặt đại dương là một phần của động lực nhiệt độ toàn cầu; nó ảnh hưởng tới tần suất và cường độ các hiện tượng cực đoan (bão, sóng nhiệt biển, mưa cực đoan) và qua đó tác động lan tỏa tới sản xuất, chuỗi cung ứng và tài chính. Khi chỉ dùng biến động nhiệt độ địa phương, các kênh truyền dẫn xuyên biên giới và các hiệu ứng hệ thống (ví dụ gián đoạn thương mại, giá lương thực toàn cầu) dễ bị bỏ sót.

Các tường thuật báo chí và bài phân tích gần đây đã trích dẫn và phổ biến kết quả trên, nêu rằng thiệt hại có thể "gấp sáu lần" so với ước tính truyền thống và cảnh báo về hậu quả kinh tế nghiêm trọng nếu không tính đủ các kênh truyền dẫn toàn cầu.

Ngoài ra, khi suy thoái đại dương làm gia tăng sự không chắc chắn về thời điểm, quy mô và tính dai dẳng của các cú sốc, khiến việc dự báo kinh tế vĩ mô và việc thực thi chính sách tiền tệ trở nên phức tạp hơn. Vì vậy, dữ liệu chi tiết hơn về các rủi ro kinh tế và tài chính trong các lĩnh vực ven biển và phụ thuộc vào đại dương là rất quan trọng đối với công việc của các ngân hàng trung ương.

Những việc cần phải làm bây giờ là gì?

Vào tháng 10 năm 2025, một báo cáo quan trọng về "kiểm tra sức khỏe hành tinh" đã cảnh báo rằng hơn ba phần tư hệ thống hỗ trợ sự sống của Trái đất, bao gồm cả đại dương, hiện đang nằm trong "vùng nguy hiểm".

Các ngân hàng trung ương không phải là những nhà hoạch định chính sách khí hậu và chúng ta không thể ngăn chặn sự suy thoái của đại dương. Tuy nhiên, chúng ta có thể và phải quan sát và nghiên cứu những hậu quả kinh tế và tài chính. Và chúng ta phải tích hợp các rủi ro liên quan đến đại dương vào các mô hình kinh tế vĩ mô, phân tích kịch bản và khung kiểm tra khả năng chịu áp lực.

Tuy nhiên, việc bảo vệ hiệu quả các chức năng kinh tế và sinh thái của đại dương sẽ đòi hỏi một hành động tập thể rộng lớn hơn nhiều. Ở cấp độ toàn cầu, chúng ta phải cắt giảm lượng khí thải nhà kính và mở rộng quy mô thích ứng dựa vào tự nhiên và cơ sở hạ tầng.

Chúng ta cũng phải thích ứng và thúc đẩy tài chính cho bảo tồn biển và ven biển, đồng thời lồng ghép tính bền vững của đại dương vào quá trình ra quyết định kinh tế. Mỗi độ tăng nhiệt độ toàn cầu sẽ làm tăng mực nước biển và đe dọa sinh kế của người dân, gây ra những tác động kinh tế dây chuyền và tổn thất tài chính.

Về mặt tích cực, những cam kết được công bố vào tháng 6 năm 2025 tại hội nghị Đại dương của Liên Hợp Quốc cho thấy cộng đồng toàn cầu đang bắt đầu có những phản hồi tích cực. Các chính phủ và nhà đầu tư đã cam kết tài trợ đáng kể.

Điều này bao gồm 1 tỷ euro từ Ủy ban châu Âu (EC - European Commission) cho khoa học và bảo tồn đại dương, và 8,7 tỷ euro cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế biển từ các nhà hảo tâm, nhà đầu tư tư nhân và ngân hàng nhà nước. Nó cũng bao gồm 3 tỷ euro từ Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB - European Investment Bank)và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB - Asian Development Bank) để chống ô nhiễm rác thải nhựa đại dương.

Ngoài ra, vào năm 2025, một Hiệp ước vùng biển quốc tế của Liên hợp quốc đã đạt được cột mốc phê chuẩn cần thiết của 60 quốc gia và chính thức có hiệu lực vào ngày 17 tháng 1 năm 2026. Đó là Hiệp ước Biển cả (tên đầy đủ: Thỏa thuận theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển về Bảo tồn và Sử dụng Bền vững Đa dạng Sinh học Biển của các Khu vực Ngoài Quyền Tài phán Quốc gia - gọi tắt là Thỏa thuận BBNJ). Hiệp ước này đạt 60 phê chuẩn vào tháng 9/2025 và chính thức có hiệu lực từ ngày 17 tháng 1 năm 2026, nhằm bảo vệ đa dạng sinh học biển tại các vùng biển quốc tế.

Thỏa thuận mang tính bước ngoặt này, phải mất hai thập kỷ mới thành hiện thực, sẽ cho phép tạo ra các khu bảo tồn biển trên vùng biển quốc tế. Mục tiêu là bảo vệ 30% vùng biển quốc tế thông qua các khu bảo tồn biển, các hạn chế hoạt động và đánh giá tác động môi trường. Hiện tại, chỉ khoảng 1% vùng biển quốc tế được bảo vệ. Việc Hiệp ước có hiệu lực đánh dấu một bước tiến lịch sử hướng tới bảo tồn đa dạng sinh học biển ở những khu vực từ lâu chưa được quản lý.

Bảo vệ đại dương không chỉ là một mục tiêu môi trường mang tính đạo đức mà còn là một nhu cầu kinh tế thiết yếu và điều kiện tiên quyết để đảm bảo phát triển bền vững lâu dài. Việc duy trì sức khỏe các hệ sinh thái biển bảo vệ sinh kế của hàng triệu người, ổn định chuỗi cung ứng toàn cầu và giảm thiểu rủi ro tài chính liên quan đến thiên tai và mất mát tài sản; ngược lại, bỏ qua đầu tư vào phục hồi và bảo vệ biển sẽ chuyển thành chi phí kinh tế khổng lồ trong tương lai.

Do đó, cần hành động đồng bộ: đầu tư vào bảo tồn và phục hồi, tích hợp rủi ro đại dương vào chính sách kinh tế và tài chính, và thiết kế các cơ chế khuyến khích để doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia. Chỉ khi coi đại dương là một tài sản kinh tế chiến lược - không phải là nguồn tài nguyên vô tận - chúng ta mới có thể bảo đảm được an ninh lương thực, ổn định giá cả và khả năng phục hồi của nền kinh tế cho các thế hệ mai sau.


Nội dung bản quyền bởi: Andrej Ceglar, Irene Heemskerk và John Hutchinson

Tags: hạ tầng tài chính số khu vực Châu Âu tài chính token hoá vào trung tâm hệ thống châu Âu chủ quyền tài chính châu Âu thúc đẩy đổi mới và bảo vệ chủ quyền tài chính thanh toán DLT bằng tiền ngân hàng trung ương thiết kế hạ tầng tài chính số châu Âu
Đinh Tiến Dũng Tác giả đã xác minh

Chuyên gia Kinh tế Vĩ mô Toàn cầu và Chính sách Tiền tệ

Một nhà phân tích sắc bén về các chính sách tiền tệ và thị trường ngoại hối. Ông chuyên phân tích chính sách của các ngân hàng trung ương lớn như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB)