Xã hội hóa cá nhân là một quá trình quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người. Qua đó, mỗi cá nhân không chỉ trở thành một thành viên tích cực của xã hội mà còn góp phần vào sự phát triển và tiến bộ của cộng đồng.
Bài viết trên VNLibs.com giải thích rõ ràng về khái niệm này, nhấn mạnh rằng xã hội hóa cá nhân không chỉ là việc tiếp thu các giá trị, chuẩn mực và hành vi từ xã hội mà còn là quá trình tự điều chỉnh và phát triển bản thân để phù hợp với môi trường xung quanh.
1. Cá nhân và nhân cách.
Khởi điểm của xã hội học phải là con người xã hội – con người có những mối quan hệ tương hỗ với người khác (không phải là con người cô lập). Đơn vị nhỏ nhất, làm nền tảng cho những tập hợp, nhóm và xã hội là con người, là cá nhân, là nhân cách.
Con người khác hẳn con vật ở chỗ nó có khả năng tư duy trừu tượng, có ngôn ngữ, có ý thức. Do vậy, có thể tự lựa chọn, quyết định, tự điều khiển bản thân, có khả năng chịu trách nhiệm về hành vi của mình, có khả năng phát triển ý thức trách nhiệm đối với người khác.
Nhờ những khả năng đó của con người mà xã hội và văn hóa phát triển. Trong thực tế không phải mọi người đều là những con người xã hội, có trí tuệ, có ý chí với mức độ đồng đều nhau. Một số người lệch hướng xã hội, một số người trí tuệ kém… Nhưng họ vẫn là những con người xã hội vì họ đều có tiềm năng trở thành những người có hành vi theo đúng khuôn mẫu như mọi người.
Cá nhân là “đơn vị thuần nhất” của con người. Nhưng con người có nhiều sắc thái, nhiều khía cạnh, bao gồm:
• Con người được các nhà sinh lý học, cơ thể học, sinh hóa học, bệnh lý học… nghiên cứu, là một đơn vị sinh lý biết làm điều thiện, điều ác;
• Con người được các nhà luân lý học, luật học… nghiên cứu, là một đơn vị tinh thần biết làm điều thiện, điều ác;
• Con người được nghiên cứu bởi các nhà thần kinh học, tâm lý học,… là đơn vị tâm lý có những nhu cầu, có ý thức, có tiềm năng…;
• Xã hội học nghiên cứu con người không chỉ dưới các khía cạnh đã nêu mà còn với một sắc thái khác – con người xã hội.
Con người được gọi là con người xã hội theo nghĩa một con người vừa có khuynh hướng kết hợp với những người khác, vừa có nhu cầu quan hệ qua lại với những người khác.
Tại sao con người hành động theo cách thức này hay khác? Tại sao một số quốc gia phát triển mạnh, một số quốc gia lại chậm phát triển? Có người nêu lên yếu tố di truyền sinh lý. Đó là một câu trả lời vội vàng và sai lầm.
Thực tế cho thấy: con người khác biệt nhau rất nhiều về thể chất do ảnh hưởng di truyền của cha mẹ. Sự khác biệt này ảnh hưởng đến tác phong của họ trong xã hội. Nhưng điều đó không có nghĩa là có những chủng tộc hay sắc tộc, quốc gia siêu việt hay thấp kém là do bẩm sinh và di truyền sinh lý.
Một số cho rằng đặc tính xã hội của các dân tộc là do địa lý, do khí hậu nơi họ sinh sống, vùng địa lý khác nhau… Có thể thừa nhận rằng, trong thực tế khung cảnh sinh sống vật chất có gây một thử thách lớn lao cho dân tộc này hơn là một dân tộc khác. Rừng rậm, núi cao, vùng băng giá… có những ảnh hưởng nhất định đến xã hội và văn hóa ở các vùng đó, dù rằng ngày nay con người đã thành công trong việc thích nghi với thiên nhiên và chế ngự được nó.
Cách giải thích hợp lý và có ý nghĩa khoa học nhất là dựa vào khung cảnh văn hóa. Sự trao đổi văn hóa có khuynh hướng làm phát triển các dân tộc nhanh hơn là sự sống cô lập về phương diện xã hội… Theo lịch sử thì những nền văn minh đầu tiên được phát triển dọc theo bờ Địa Trung Hải, vì ở đó sớm có sự trao đổi giữa các nền văn hóa khác nhau.
Mỗi con người là một cá thể và sẽ là một cá nhân, một thành viên của xã hội. Không một cá nhân nào có thể tách mình ra khỏi xã hội, vì con người sinh ra là để sống trong xã hội. Con người chỉ có thể tồn tại và phát triển trong xã hội. Trong thời đại ngày nay, “cá nhân càng không thể đứng riêng lẻ, mà càng phải hòa mình trong tập thể, trong xã hội”.
Ngược lại, không một xã hội nào tồn tại nếu không có những cá nhân thành viên; Xã hội tồn tại và lưu truyền được nền văn minh của mình chính là nhờ thông qua các cá nhân thành viên của nó. “Các cá nhân là các đơn vị của cơ thể xã hội thật mà họ tham gia vào sự phát triển của nó, dù không nhận biết về điều đó”.
* Nhân cách: mỗi con người đều phải sống giữa xã hội loài người, nhưng không hẳn mỗi con người đều là nhân cách. Nhân cách là sản phẩm của một nền văn minh và của những thể chế thuộc một xã hội.
Nhân cách là “một tổng thể những điều kiện bên trong gắn bó thành một thể thống nhất, mà tất cả mọi tác động bên ngoài đều phải khúc xạ qua đó”. Tính chất của nhân cách cũng không thể tách rời với chức năng xã hội của nó (“vai trò của nó trong cuộc sống”), với ý thức bản ngã, với sự định hướng giá trị của nó.
Như vậy, có một số liên hệ nào đó giữa nhân cách với cơ cấu của xã hội. Và mối liên hệ ấy có tính chất chức năng vì các cá nhân thành viên “thực hiện chức năng” một cách bình thường trong xã hội của họ. Do vậy, có thể nói: có một logic nhất định trong một xã hội nhất định, vì những nét cơ bản của xã hội được thể hiện giống nhau ở các tập đoàn, các nhóm xã hội; vì một số cơ cấu cơ bản trong xã hội tương ứng và có mối liên hệ mật thiết với nhau (hệ tư tưởng, thái độ xử sự, các thiết chế,…).
Tuy vậy còn có những khác biệt giữa nông thôn và thành thị, nam và nữ, tuổi trẻ với tuổi già, giữa người ở xã hội văn minh và xã hội không văn minh (Các nhà xã hội học cho rằng, mọi xã hội kể cả xã hội nguyên thủy đều có một nền văn minh – nền văn hóa của mình).
Khi chú ý đến vấn đề hình thành nhân cách của cá nhân thì hệ thống giáo dục có vai trò quyết định trong việc truyền bá các kiểu nhân cách – trong việc kế thừa nền văn minh. Nhờ vậy, muốn biết rõ người lớn xử sự thế nào trong xã hội thì có thể xem xét lối dạy dỗ trẻ em. Từ đó, chúng ta có thể biết được tính chất của từng dân tộc.
Tóm lại, nhân cách là một tổng hòa các yếu tố sinh lý, tâm lý và xã hội. Nhân cách nằm ngay trong bản thân con người. Trong xã hội hiện đại Việt Nam, nhân cách được thể hiện trên nhiều mặt của cuộc sống và chứa đựng một nội dung cao đẹp: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Nhân cách là kết quả của mối quan hệ cá nhân với cộng đồng, với giai cấp, với dân tộc.
2. Xã hội hoá cá nhân.
Một đứa trẻ mới sinh chỉ có các phản xạ không điều kiện, chỉ có những phản ứng chưa có ý thức, dần dần trẻ đã có phản xạ có điều kiện, biết hành động theo yêu cầu của người khác, rồi trở thành chủ thể hành động có ý thức, chủ thể hoạt động độc lập. Đó là kết quả của quá trình xã hội hóa.
2.1. Khái niệm xã hội hóa cá nhân.
Có nhiều định nghĩa về xã hội hóa. Căn cứ vào tính chủ động của cá nhân trong quá trình xã hội hóa, ta có thể phân chia hai xu thế quan niệm về xã hội hóa:
– Xu thế thứ nhất, ít chú ý đến tính chủ động của cá nhân trong quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội. Các cá nhân dường như bị khuôn vào các chuẩn mực, khuôn mẫu mà không thể làm khác được.
– Xu thế thứ hai, khẳng định tính tích cực, sáng tạo của cá nhân trong quá trình xã hội hóa. Cá nhân không chỉ tiếp thu những kinh nghiệm xã hội mà còn tham gia vào quá trình truyền bá kinh nghiệm là làm sống động, phong phú các kinh nghiệm xã hội.
Chúng ta có thể kể các định nghĩa: Neil Smelser (nhà xã hội học Mỹ) định nghĩa: “Xã hội hóa là quá trình, mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình để phục vụ tốt cho việc thực hiện các mô hình hành vi tương ứng với hệ thống vai trò mà cá nhân phải đóng trong cuộc đời mình”.
Theo định nghĩa này, trong quá trình xã hội hóa cá nhân chỉ tiếp nhận kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực. Tác giả chưa đề cập đến việc cá nhân có thể có khả năng tạo ra những kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực, làm phong phú nền văn hóa dân tộc.
Thực tế cho thấy rằng, trong quá trình tương tác xã hội mỗi con người đều có những điểm mà người khác có thể học tập. Trong lịch sử đã có những nhân cách vĩ đại tạo ra những chuẩn mực, giá trị… được dân tộc, quốc gia thừa nhận.
Fichter (Mỹ) đã xem “Xã hội hóa là một quá trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó”. Định nghĩa này cho thấy Fichter đã chú ý hơn tới tính tích cực trong quá trình xã hội hóa.
Khác với hai tác giả trên, nhà xã hội học người Nga G. Andrea đã chú ý tới cả hai mặt của quá trình xã hội hóa, khi bà nêu: “Xã hội hóa là quá trình hai mặt. Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội. Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội” (1988).
Như vậy, trong quá trình xã hội hóa, cá nhân không đơn thuần thu nhận kinh nghiệm mà còn chuyển hóa nó thành những giá trị, tâm thế, xu hướng… của mình để có thể tái tạo chúng trong xã hội. Con người – ở mặt thứ nhất – chịu sự tác động của môi trường tới mình; còn ở mặt thứ hai – con người tác động ngược trở lại môi trường thông qua hoạt động của mình.
– Ở mặt thứ nhất: xã hội truyền bá văn hóa của mình từ thế hệ này qua thế hệ khác, làm cho cá nhân thích ứng với những nếp sống, sinh hoạt được xã hội chấp nhận. Tức là, nhiệm vụ của xã hội hóa là phát triển ở cá nhân những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, hệ thống giá trị… của xã hội, nhất là dạy cho cá nhân những vai trò sẽ phải đóng.
Diễn biến xã hội không chỉ ảnh hưởng tới trẻ em hoặc những cư dân mới tiếp xúc lần đầu với xã hội, mà ảnh hưởng tới tất cả mọi người trong suốt cả cuộc đời họ – Nó tác động đến mọi người, đem lại cho họ những khuôn mẫu xã hội cần thiết cho sự duy trì xã hội và văn hóa.
– Ở mặt thứ hai, xã hội hóa là một quá trình diễn ra sự thích ứng của cá nhân với những người xung quanh. Ngay từ khi còn nhỏ, cá nhân đã “nhập” vào xã hội, “hòa mình” vào xã hội. Quá trình đó diễn ra lâu dài, suốt cuộc đời con người.
Hai mặt đó liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình xã hội hóa cá nhân.
2.2. Những đặc điểm cơ bản của xã hội hóa cá nhân.
– Xã hội hóa cá nhân là quá trình tiếp thu nền văn hoá xã hội, những kinh nghiệm xã hội.
Trong xã hội học, văn hóa được xem là “Tổng thể những hành vi học hỏi được, các giá trị, niềm tin, ngôn ngữ, luật pháp và kĩ thuật của các thành viên sống trong một xã hội nhất định”.
Văn hóa là mặt cơ bản của đời sống xã hội và con người ở mọi không gian và thời gian. Các thành viên của một xã hội cùng tham gia chung vào một nền văn hóa. Không có một nền văn hóa và một xã hội tồn tại biệt lập nhau. Bản thân nền văn hóa là một tổng hợp rộng lớn, bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Văn hóa là một phân hệ nằm trong hệ thống phức hợp chung, nhưng bản thân nó cũng là một hệ thống bao gồm các cơ cấu, các thể chế, chuẩn mực, giá trị, hệ tư tưởng nhất định…
Xã hội hóa là quá trình tiếp thu và tích cực biến đổi sức mạnh cơ bản của con người – được đối tượng hóa trong nền văn hóa xã hội – bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Xã hội hóa còn được coi là quá trình cá nhân tiếp thu và tái tạo những kinh nghiệm xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp của họ trong xã hội. Thông qua đó con người nhận thức được hiện thực xung quanh, chiếm lĩnh những kỹ năng hoạt động của cá nhân và tập thể, hấp thụ nền văn hóa Người.
Kinh nghiệm xã hội là một dạng của tri thức, hiểu biết, là kết quả của quá trình nhận thức. Con người tiếp xúc trực tiếp với môi trường tự nhiên và xã hội của mình mà tiếp thu được kinh nghiệm trong môi trường sống của mình. Những kinh nghiệm là khởi điểm cho sự xem xét, phán đoán và ứng xử của cá nhân đối với thế giới xung quanh. Mặt khác, những kinh nghiệm xã hội đó được thể hiện ra và được tiếp thu qua các mối quan hệ xã hội trong môi trường, nhất là môi trường vi mô.
– Xã hội hóa cá nhân là quá trình tiếp thu những giá trị chuẩn mực xã hội.
Giá trị là cái có ý nghĩa đối với xã hội, đối với nhóm và cá nhân. Nó phản ánh mối quan hệ chủ thể – khách thể, được đánh giá xuất phát từ những điều kiện xã hội – lịch sử cụ thể và phụ thuộc vào sự phát triển nhân cách. Khi đã được nhận thức, đánh giá, lựa chọn thì giá trị trở nên một trong những động lực thúc đẩy con người hành động, phát triển theo một xu hướng nhất định.
Do vậy, có thể xem xã hội hóa là một quá trình mà qua đó cá nhân học hỏi giá trị và quy tắc xã hội để cá nhân tồn tại như một thành viên xã hội. Vì tính chất của giá trị sẽ khiến cho giá trị và định hướng giá trị có ý nghĩa dương tính hoặc âm tính. Nên việc xã hội hóa cá nhân phải hướng vào việc tiếp thu những giá trị xã hội tích cực.
Chuẩn mực xã hội là những tiêu chuẩn về hành vi, thái độ được quy định trong quan hệ giữa con người với con người trong xã hội. Những chuẩn mực này là điều kiện để kiến tạo các mối quan hệ (thúc đẩy tác động tương hỗ có hiệu quả giữa các cá nhân trong quá trình hoạt động cùng nhau, làm cho cá nhân có trách nhiệm về hành vi của mình).
Những phong tục, tập quán, quy ước cũng là một dạng của chuẩn mực. Chúng là cơ sở để đánh giá, điều chỉnh hành vi của mình và người khác. Việc thực hiện chúng có sự kiểm tra của xã hội.
– Xã hội hóa là sự rèn luyện, học hỏi, làm tốt các vai trò xã hội, thực hiện sự hòa nhập vào đời sống cộng đồng.
Vai trò như là một tập hợp những ứng xử của mỗi cá nhân mà người khác trông chờ ở họ. Mỗi cá nhân phải thực hiện các vai trò khác nhau ở các nhóm xã hội. Vai trò là kết quả của quá trình luyện tập của cá nhân một cách có ý thức hoặc chưa có ý thức. Nó là kết quả và cũng là mục tiêu của xã hội hóa cá nhân, nên vai trò gắn liền với quá trình xã hội hóa cá nhân.
Việc thực hiện các vai trò xã hội là điều kiện để cá nhân trở thành thành viên của xã hội, của cộng đồng. Thông qua việc thực hiện các vai trò xã hội mà cá nhân hòa nhập được vào cuộc sống cộng đồng. Nhưng chính cuộc sống cộng đồng lại tiếp tục xã hội hóa cá nhân. Từ đó có thể nói xã hội hoá cá nhân là một quá trình tất yếu của mọi xã hội.
2.3. Mục đích của xã hội hóa.
Xã hội hóa cá nhân là một quá trình diễn ra ở mọi người, mọi lứa tuổi, suốt từ lúc con người sinh ra cho đến hết cuộc đời, nên nó cũng có diễn biến của nó. Quá trình xã hội hóa hướng tới các mục đích:
– Cá nhân phải có khả năng thông đạt và phát triển các khả năng nói, đọc, viết, diễn đạt ý tưởng.
– Cá nhân phải được thấm nhuần các giá trị xã hội, chuẩn mực và niềm tin của xã hội. Cá nhân cũng cần phát triển được ý thức bản ngã. Cá nhân được xã hội hóa để thấy mình là một thực thể độc lập riêng biệt, tách khỏi các cá nhân khác. Nói một cách tổng quát, cá nhân được xã hội hoá để trở thành chủ thể hoạt động năng động, sáng tạo đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội hiện đại.
2.4. Các giai đoạn xã hội hoá cá nhân.
Vấn đề này đã được nghiên cứu từ lâu và có các ý kiến khác nhau (ví dụ, về thời điểm bắt đầu, kết thúc xã hội hóa cá nhân). Có thể nêu các quan điểm cơ bản sau:
Quan điểm của Phân tâm học S. Freud đánh giá ý nghĩa đặc biệt quan trọng của giai đoạn đầu trong đời sống con người, đã xác định giai đoạn xã hội hóa của con người một cách cứng nhắc: Xem xã hội hóa như một quá trình trùng với quá trình phát triển của trẻ thơ.
Những trường phái khác lại đặc biệt chú ý nghiên cứu quá trình xã hội hóa ở thời kỳ thanh niên. Nhưng các tác giả vẫn còn tranh cãi xem ở lứa tuổi cao hơn, liệu thanh niên có còn tiếp thu kiến thức hay không? (Đó là một nội dung quan trọng nhất của quá trình xã hội hóa). Hoặc cũng có nhiều các phân đoạn của quá trình xã hội hóa: ba giai đoạn hay đến tám giai đoạn:
– Phân đoạn của G. Mead. G.Mead cho rằng kết quả của quá trình xã hội hóa là một nhân cách gồm có hai thành phần: cái tôi chủ động và cái tôi bị động (“Me”), (“I”). Quá trình này gồm ba giai đoạn.
+ Bắt chước: đứa trẻ sao chép hành vi của những người xung quanh, nhưng chưa hiểu về ý nghĩa của các hành vi đó (Bắt chước lau nhà, giặt quần áo).
+ Đóng vai: trẻ bắt đầu nhận biết được là có những hành vi tương ứng với các vai trò nhất định, nhất là các vai trò trong phạm vi quan sát của trẻ như bố, mẹ, ông, bà… Với nhận thức đó, trẻ bắt đầu thực hiện những hành vi của mình (Việc trẻ đóng các vai khác nhau bố – con… giúp trẻ hiểu được những suy nghĩ, hành động của người khác khi thực hiện các vai trò đó).
+ Trò chơi: trẻ cần phải biết được sự đòi hỏi không phải của một cá nhân nào đó mà của cả xã hội. Để trở thành trẻ ngoan, trẻ phải ngoan với tất cả mọi người. Ở trẻ đã bắt đầu hình thành một khái niệm về người khác một cách khái quát.
– Phân đoạn của G. Andreeva. Dựa vào hoạt động chủ đạo của cá nhân trong suốt cả cuộc đời bà đã coi quá trình xã hội hóa gồm ba giai đoạn:
+ Giai đoạn trước lao động: Từ khi con người sinh ra đến lúc họ bắt đầu hoạt động chính thức. Nó gồm hai giai đoạn nhỏ:
• Giai đoạn trẻ thơ – xã hội hóa sớm là bắt đầu từ khi trẻ sinh ra cho đến khi đi học, hoạt động chủ đạo là vui chơi;
• Giai đoạn học hành là bao gồm toàn bộ thời kỳ thanh – thiếu niên, bắt đầu từ thời kỳ trẻ đi học đến khi kết thúc việc học, học nghề, hoạt động chủ yếu là học tập, cá nhân bắt đầu tiếp nhận những kiến thức khoa học, thiết lập các tương tác xã hội mới và quan hệ xã hội mới. Việc phân chia thời kỳ học tập ở đại học và trung cấp chuyên nghiệp ở đâu còn là vấn đề thực tiễn cần được quan tâm.
+ Giai đoạn lao động: Bắt đầu từ khi con người bước vào quá trình lao động chính thức đến khi kết thúc. Hoạt động chủ đạo của cá nhân là lao động. Ở thời kỳ này cá nhân không chỉ thu nhận những kinh nghiệm xã hội các giá trị, chuẩn mực mà còn tái tạo chúng trong quá trình lao động.
+ Giai đoạn sau lao động: khi cá nhân kết thúc lao động của mình, về nghỉ ngơi. Còn nhiều tranh cãi về việc xã hội hóa giai đoạn này. Bao gồm:
• Quan điểm thứ nhất cho rằng ở giai đoạn này các chức năng xã hội của con người bị thu hẹp lại. Cực đoan nhất là quan điểm về quá trình “phi xã hội hóa” (De – socialization) cho rằng, đó là quá trình tiêu hủy những thành quả của quá trình xã hội hóa. Sự tiêu hủy này diễn ra ngay sau quá trình xã hội hóa;
• Quan điểm thứ hai cho rằng, cần nhìn nhận một cách lạc quan về việc xã hội hóa ở giai đoạn này.
Cuộc sống thực tế và nhiều nghiên cứu cho thấy người già vẫn còn tính tích cực xã hội. Quá trình tác động qua lại giữa các nhu cầu của cá nhân với các đòi hỏi của xã hội được các nhà xã hội học Marxist xem là sự xã hội hóa. Không chỉ trẻ em, thanh niên mà cả người lớn cũng luôn luôn phải thay đổi bản thân khi cần phải đảm nhận những nhiệm vụ mới trong cuộc sống riêng hoặc trong nghề nghiệp.
Một ví dụ thực tế về xã hội hóa cá nhân có thể thấy rõ trong môi trường học đường. Khi một đứa trẻ bắt đầu đi học, nó không chỉ học kiến thức từ sách vở mà còn học cách tương tác với bạn bè, thầy cô và các quy tắc xã hội. Qua các hoạt động nhóm, trò chơi và các sự kiện trường học, trẻ em học cách hợp tác, chia sẻ, và phát triển kỹ năng giao tiếp. Những trải nghiệm này giúp trẻ hình thành nhân cách và hiểu biết về vai trò của mình trong xã hội.
Các bước ngoặt của cuộc đời như thuyên chuyển công tác, hôn nhân, sinh con,… cũng đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của việc xã hội hóa người lớn. Nhiều người già đóng vai trò quan trọng trong việc tái tạo lại các kinh nghiệm xã hội, truyền đạt những kinh nghiệm, giá trị cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên tính tích cực xã hội ở giai đoạn này khác nhiều so với giai đoạn trước. Trong thời đại ngày nay, mọi cá nhân phải liên tục học hỏi, để thích ứng được với nhịp độ của cuộc sống hiện đại.
Hơn nữa, khi chuyển sang cuộc sống sau lao động, người già cũng cần học hỏi để hội nhập, thích ứng với cuộc sống mới, với điều kiện sống riêng đã thay đổi. Trong xã hội chúng ta, thời kỳ nghỉ hưu là một thời kỳ phong phú trong cuộc sống có ý nghĩa xã hội lớn lao. Do vậy, có thể nói xã hội hóa chính là tạo điều kiện cho con người thâm nhập vào những trung tâm sôi động của đời sống xã hội, đem sức mình phục vụ cho xã hội đang vận động không ngừng.
Cách phân đoạn này có ưu điểm hơn so với các cách phân đoạn khác (nhất là của Freud). Nhưng ở những nơi còn kém phát triển về kinh tế xã hội (trẻ em bỏ học nhiều) thì khó áp dụng cách phân đoạn này. Vì nó chưa chỉ rõ các con đường khác mà cá nhân có thể thu nhận kinh nghiệm xã hội (qua các nhóm không chính thức).
Nhìn chung, các nhà xã hội học tương đối thống nhất với nhau về ba giai đoạn xã hội hóa: Giai đoạn xã hội hóa ban đầu của đứa trẻ trong gia đình; Giai đoạn xã hội hóa diễn ra trong nhà trường; Giai đoạn con người thực sự bước vào đời để đảm nhận vai trò đã được chuẩn bị từ giai đoạn trước.
Lúc này cá nhân thực hiện đồng thời nhiều vai trò khác nhau trong các nhóm xã hội và trong toàn xã hội. Đây là giai đoạn cá nhân phát huy được khả năng sáng tạo của mình nhiều nhất. Ranh giới giữa các giai đoạn này chỉ có tính chất tương đối. Trên thực tế, cá nhân vẫn có thể vừa đi học, vừa đi làm,…
3. Xây dựng con người.
Xã hội hóa là quá trình cần thiết cho sự phát triển cá nhân của con người để con người trở thành chủ thể của xã hội. Quá trình xã hội hóa diễn ra ngay từ khi con người còn nhỏ và ngay cả khi họ đã trưởng thành. Nhưng có thể nói quá trình đó luôn gắn liền với sự cá thể hóa và thông qua đó, cái tôi của cá nhân được phát triển. Xã hội hóa cá nhân luôn là sản phẩm của tương tác xã hội giữa con người với môi trường, với xã hội.
3.1. Tương tác xã hội.
Tương tác xã hội được xem là quá trình hành động và hành động đáp lại của một chủ thể này đối với một chủ thể khác. Sự tương tác xã hội có thể diễn ra cả ở cấp độ vi mô (những đơn vị tương tác nhỏ nhất), cả ở cấp độ vĩ mô (sự tương tác của các cơ cấu xã hội, hệ thống xã hội hay giữa các thiết chế xã hội,…). Với tư cách là thành viên của nhóm, của tổ chức xã hội, các cá nhân thực hiện tương tác của mình đồng thời trên cả hai cấp độ.
Ví dụ: một giáo sư đại học đi giảng ở một trường đại học khác thì giáo sư đó vừa thực hiện tương tác ở cấp độ cá nhân (vi mô), vừa thực hiện tương tác ở cấp độ tổ chức (vĩ mô),… Một ví dụ thực tế về xã hội hóa cá nhân trong cuộc sống của sinh viên có thể là việc tham gia các câu lạc bộ và hoạt động ngoại khóa tại trường đại học. Khi sinh viên tham gia vào các câu lạc bộ như câu lạc bộ học thuật, thể thao, nghệ thuật hay tình nguyện, họ không chỉ học hỏi thêm kiến thức và kỹ năng mới mà còn phát triển các mối quan hệ xã hội, học cách làm việc nhóm và giao tiếp hiệu quả. Những trải nghiệm này giúp sinh viên hiểu rõ hơn về bản thân, phát triển nhân cách và chuẩn bị tốt hơn cho cuộc sống sau khi ra trường.
Do vậy cần phải hiểu, tương tác xã hội theo nghĩa rộng: đó không phải chỉ là hành động và phản ứng. Đó là một hình thức thông tin và giao tiếp xã hội của ít nhất là hai chủ thể hành động. Trong quá trình này, sự tác động qua lại của các chủ thể sẽ được thực hiện đồng thời, cùng diễn ra sự thích ứng của một hành động và một hành động khác. Qua đó, họ đạt được sự hiểu biết nhau về tình huống, về ý nghĩa của hành động. Do vậy, có thể có sự hợp tác, đồng tình nhất định. Nhưng cũng cần phải thấy:
– Trong thực tế mỗi chủ thể đều có mục đích nhất định trong tương tác xã hội. Không phải khi nào các mục đích này cũng có thể hòa đồng được với nhau, hơn nữa có khi chúng còn có thể loại trừ nhau. Ví dụ, Trong một buổi biểu diễn âm nhạc, người bảo vệ phải ngăn chặn những khán giả quá khích gây rối, đảm bảo an ninh cho sự kiện, mục đích của người bảo vệ là duy trì trật tự, trong khi mục đích của những kẻ gây rối là phá hoại sự kiện.
– Cả hai chủ thể hành động trong tương tác đều chịu ảnh hưởng của các giá trị, chuẩn mực xã hội, nhưng họ cũng chịu ảnh hưởng của những tiểu văn hóa khác nhau. Tức là mức độ ảnh hưởng của những giá trị, chuẩn mực xã hội tới họ không như nhau. Hơn nữa các đặc điểm tâm lý cá nhân cũng khiến họ tiếp nhận giá trị, chuẩn mực xã hội một cách khác nhau. Sự khác nhau đó khiến các chủ thể tương tác có khó khăn để tìm được “tiếng nói chung”, sự hiểu biết chung về tình huống, hoàn cảnh tương tác.
– Mức độ khác biệt giữa hệ giá trị của các chủ thể là yếu tố cơ bản quyết định mức độ thích ứng giữa các chủ thể tương tác. Nếu các giá trị đó khác nhau, nhưng không xung đột nhau thì vẫn có thể tạo ra sự thích ứng lẫn nhau giữa các chủ thể tương tác xã hội. Nếu các giá trị đó càng xung đột với nhau thì càng khó có sự thích ứng giữa họ.
Các hệ giá trị đặc thù của các chủ thể cũng có thể thay đổi trong quá trình tương tác xã hội. Điều đó sẽ làm thay đổi mức độ thích ứng của các chủ thể tương tác. Tùy theo thời gian, cường độ, tính ổn định của các tương tác và mức độ khác biệt của các hệ giá trị của chủ thể, ta có thể thấy sự biến đổi có những mức độ sau:
• Hầu như không biến đổi: các chủ thể hầu như không thích ứng được với nhau, thậm chí xung đột. Ví dụ, Hai nhóm sinh viên từ hai khoa khác nhau trong trường đại học tổ chức một buổi thảo luận về một chủ đề học thuật. Tuy nhiên, do sự khác biệt quá lớn về quan điểm và phương pháp tiếp cận, họ không thể tìm được tiếng nói chung và buổi thảo luận kết thúc trong sự bất đồng.
• Biến đổi ít: các chủ thể hành động có thể tìm thấy sự hợp tác, đồng tình tối thiểu. Ví dụ, Một nhóm nhân viên từ các phòng ban khác nhau trong công ty cùng tham gia vào một dự án chung. Mặc dù có những khác biệt về cách làm việc và mục tiêu cá nhân, họ vẫn có thể hợp tác ở mức độ tối thiểu để hoàn thành dự án.
• Biến đổi nhiều: nếu cả hai chủ thể đều biến đổi nhiều thì có sự đồng tình và hợp tác ăn ý của cả hai chủ thể. Còn nếu chỉ có một trong hai chủ thể biến đổi nhiều thì có thể dẫn tới sự lệ thuộc, quy phục. Ví dụ, Hai công ty đối tác trong một liên doanh cùng làm việc để phát triển một sản phẩm mới. Cả hai bên đều điều chỉnh phương pháp làm việc và hệ giá trị của mình để phù hợp với đối tác, dẫn đến sự hợp tác hiệu quả và thành công của dự án.
• Biến đổi gần như hoàn toàn: khi có một chủ thể tự động điều chỉnh hệ giá trị và hành động của bản thân cho phù hợp với chủ thể kia. Ví dụ, Một cá nhân mới gia nhập một tổ chức phi chính phủ (NGO) và nhanh chóng thích nghi với văn hóa và giá trị của tổ chức. Người này điều chỉnh hoàn toàn hệ giá trị và hành động của mình để phù hợp với các tiêu chuẩn và mục tiêu của tổ chức, trở thành một thành viên tích cực và có ảnh hưởng.
* Khái niệm tương tác xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhiều khái niệm khác, đặc biệt là hành động xã hội và quan hệ xã hội.
– Con người có thể thực hiện các dạng tương tác xã hội khác nhau.
+ J. Sepanski (nhà xã hội học Ba Lan) cho rằng tương tác xã hội được xây dựng từ các mức độ phát triển khác nhau mà nó trải qua. Mức độ đó được thể hiện ở sự phát triển mối liên hệ xã hội giữa các chủ thể tương tác:
• Sự tiếp xúc không gian: các con người dường như chưa có mối liên hệ xã hội mà chỉ có vị trí không gian quan sát gần nhau. Ví dụ, Trong một buổi hội thảo, các đại biểu ngồi gần nhau nhưng chưa có sự giao tiếp hay tương tác xã hội nào. Họ chỉ đơn thuần là những người cùng chia sẻ không gian vật lý.
• Sự tiếp xúc tâm lý: giữa các cá nhân trong tương tác đã có sự quan tâm để ý lẫn nhau. Ví dụ, Trong một lớp học, các sinh viên bắt đầu chú ý và quan tâm đến nhau qua các hoạt động nhóm nhỏ, tạo ra sự kết nối tâm lý ban đầu.
• Sự tiếp xúc xã hội: đã có sự hoạt động chung giữa các chủ thể tương tác. Ví dụ, Các thành viên trong một câu lạc bộ sách cùng thảo luận về một cuốn sách họ đã đọc, chia sẻ ý kiến và cảm nhận, tạo ra sự hoạt động chung giữa các chủ thể tương tác.
• Sự tương tác: chủ thể thực hiện hành động ổn định, có hệ thống, với mục đích tạo ra những phản ứng tương tác ở phía đối tác. Ví dụ, Trong một dự án nhóm, các thành viên làm việc cùng nhau một cách có hệ thống và ổn định, mỗi người đều có nhiệm vụ cụ thể và cùng hướng tới mục tiêu chung, tạo ra những phản ứng tương tác tích cực từ phía đối tác.
• Quan hệ xã hội là những hệ thống phối hợp các hành động với nhau. Ví dụ, Một nhóm bạn thân thường xuyên gặp gỡ, chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày. Họ có một hệ thống phối hợp các hành động và mối quan hệ xã hội bền vững.
+ Các nhà khoa học Nga cho rằng các dạng tổ chức hoạt động chung là các dạng tương tác xã hội khác nhau. Dựa trên cơ sở hoạt động chung. Umanxki đã phân biệt ba dạng tương tác.
• Hoạt động cá nhân – cùng nhau: các cá nhân cùng làm những công việc nào đó, mà việc họ thực hiện công việc của mình không ảnh hưởng nhiều đến tốc độ, công việc của người khác. Ví dụ: Các nhân viên trong một văn phòng làm việc cùng nhau nhưng mỗi người có nhiệm vụ riêng biệt, như kế toán, nhân sự, và marketing. Mỗi người làm việc độc lập và công việc của họ không ảnh hưởng trực tiếp đến công việc của người khác..
• Hoạt động tiếp nối – cùng nhau: các cá nhân thực hiện các công việc tiếp nối nhau, thực hiện nhiệm vụ của một người ảnh hưởng tới tốc độ, chất lượng công việc của người khác. Ví dụ: Trong một dây chuyền sản xuất ô tô, mỗi công nhân thực hiện một bước cụ thể trong quá trình lắp ráp. Nếu một công nhân chậm trễ hoặc làm sai, nó sẽ ảnh hưởng đến tốc độ và chất lượng của toàn bộ dây chuyền.
• Hoạt động tương hỗ – cùng nhau: khi đó có sự tương tác cá nhân đồng thời với tất cả những cá nhân khác trong cùng hoạt động. Ví dụ: Trong một đội bóng đá, các cầu thủ phải liên tục tương tác và phối hợp với nhau. Mỗi hành động của một cầu thủ, như chuyền bóng hay phòng ngự, đều ảnh hưởng trực tiếp đến chiến thuật và kết quả của cả đội.
+ Trong tương tác xã hội những chủ thể hành động có thể là cá nhân, nhóm thậm chí cả xã hội. Nếu chú ý đến chủ thể hành động có thể có các dạng tương tác xã hội:
• Tương tác liên cá nhân: Ví dụ, hai người bạn cùng nhau thảo luận về một dự án học tập, chia sẻ ý kiến và hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành công việc.
• Tương tác cá nhân – xã hội: Ví dụ, một cá nhân tham gia vào một cuộc biểu tình để phản đối một chính sách của chính phủ, thể hiện sự bất đồng quan điểm với xã hội.
• Tương tác nhóm – nhóm: Ví dụ, hai đội bóng đá từ hai trường đại học khác nhau thi đấu với nhau trong một giải đấu, cạnh tranh để giành chiến thắng.
• Tương tác nhóm – xã hội: Ví dụ, một nhóm bảo vệ môi trường tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về việc bảo vệ thiên nhiên, đối đầu với các hành vi gây hại cho môi trường.
• Tương tác giữa các cá nhân với tư cách đại diện cho các nhóm khác nhau. Ví dụ, đại diện của hai công ty ký kết một hợp đồng hợp tác kinh doanh, mỗi người đại diện cho lợi ích và mục tiêu của công ty mình..
Ngoài ra các chủ thể đó có thể tương tác trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau. Tương tác trực tiếp là loại tương tác đối mặt, khi các chủ thể tương tác xã hội không dùng bất cứ một phương tiện trung gian nào để thực hiện giao tiếp. Tương tác gián tiếp khi các chủ thể hành động phải dùng đến các phương tiện trung gian như máy fax, telex, điện thoại, máy vi tính, các phương tiện thông tin đại chúng để thiết lập và duy trì quá trình tương tác.
Ở góc độ xã hội học, có thể nói, xét đến cùng thì mọi tương tác xã hội đều có tính chất gián tiếp vì trong quá trình thực hiện tương tác của mình mọi chủ thể đều dùng các phương tiện kĩ thuật, dùng đến văn hóa, tinh thần như hệ thống giá trị, chuẩn mực,… để hành động.
+ Xét tính chất của những tương tác xã hội chúng ta thấy dường như các chủ thể hành động luôn mang một trong những đặc trưng xã hội như đồng tình hoặc xung đột, thích ứng hay đối lập, liên kết hay không liên kết. Ta có thể quy các hành động thành hai nhóm chính:
• Nhóm bao gồm những biểu hiện tương tác mang tính chất tích cực, xây dựng, nhờ đó các chủ thể có thể tổ chức được các hoạt động chung. Đó là những tương tác theo dạng hợp tác.
• Nhóm gồm những biểu hiện tương tác mang tính chất tiêu cực, phá hoại, đối kháng,… và ngăn cản những hoạt động chung. Đó là tương tác dạng cạnh tranh.
“Thi đua” là hình thức trung gian giữa hai dạng trên. Thực chất thì thi đua cũng là một dạng cạnh tranh, nhưng khác ở chỗ nó có mục tiêu lành mạnh là cùng giúp nhau tiến bộ và các nhóm thi đua vẫn có thể cùng hoạt động chung ở chừng mực nhất định.
Nếu chú ý đến tính chất, thì ngoài các hình thức tương tác cơ bản trên, ta còn có thể kể tương tác dài hạn, ngắn hạn, tương tác ổn định, tương tác không ổn định, tương tác được thiết chế hóa, không thiết chế hóa.
3.2. Cá thể hoá và xã hội hoá cá nhân.
Những phân tích ở trên cho thấy quá trình xã hội hoá cá nhân gắn liền với quá trình tương tác xã hội, mà cá nhân là một trong các chủ thể. Mặt khác, quá trình xã hội hoá cá nhân cũng gắn liền với cá thể hoá.
– Vấn đề cơ bản là cá nhân hoà nhập vào xã hội và có được những phẩm chất xã hội mong muốn.
Thực chất, đó là quá trình cá nhân dần dần “nhập tâm” những giá trị và chuẩn mực xã hội đề ra để biến chúng thành giá trị, chuẩn mực của mình. Cá nhân học cách hành động đúng theo những chuẩn mực của một nhóm người cụ thể nào đó.
Những chuẩn mực phản ánh các truyền thống văn hóa mà nhóm tán thành. Thông qua đó mà cá nhân có được kinh nghiệm và từ đó “cái tôi” được hình thành. Thông qua quá trình học tập mà cá nhân biến đổi – cá nhân phản ánh được kinh nghiệm. Khi nghiên cứu quá trình “học cách hành động đúng” của con người, theo Talcott Parsons phải dựa vào bốn cấp độ.
• Cấp độ văn hóa, liên quan đến truyền thống như thiết chế, những giá trị chuẩn mực.
• Cấp độ xã hội, liên quan tới tổ chức và bao hàm những khái niệm như nhóm, địa vị, vai trò,…
• Cấp độ nhân cách liên quan với cái tôi, những khái niệm mô tả về cái tôi và về những kinh nghiệm cá nhân.
• Cấp độ cá nhân liên hệ tới những đặc điểm cá thể.
Tất nhiên, sự phân chia bốn cấp độ như vậy chỉ có ý nghĩa tương đối. Trong thực tế, chúng là các mặt của một khối thống nhất. Mỗi cấp độ đều có tầm quan trọng nhất định.
Xã hội hóa cá nhân là sản phẩm của tương tác xã hội và phải phân tích ở cấp độ xã hội. Nhưng nếu tập trung vào những biến đổi ở cá nhân thì phải lưu ý đến quá trình học tập. Mọi nhóm xã hội đều thực hiện việc xã hội hóa các thành viên. Nhóm truyền đạt cho các thành viên mới những kỳ vọng đối với những hành vi và những giá trị mà nhóm đã thừa nhận.
Các thành viên mới lĩnh hội những kỳ vọng đó, học những luật lệ liên quan đến giá trị trong nhóm. Qua sự kiểm soát xã hội các thành viên sẽ học cách điều chỉnh các hành vi của mình cho phù hợp với những kỳ vọng của nhóm… Như vậy, cá nhân học được cách đáp ứng lại kỳ vọng của nhóm.
Trong trường hợp khác, các cá nhân học và chấp nhận các nguyên tắc, các giá trị tiềm ẩn trong các nguyên tắc đó, như là một điều kiện cần thiết và đưa chúng vào hệ thống quan niệm của cá nhân, niềm tin cá nhân. Đó là quá trình “nhập tâm” – quá trình chuyển hệ thống niềm tin, giá trị. chuẩn mực của nhóm thành niềm tin, giá trị, chuẩn mực của cá nhân. Đó là cơ sở để có sự tự kiểm soát, tự điều chỉnh bản thân đáp ứng yêu cầu của nhóm, hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng.
– Sự phát triển của cái tôi.
+ Thông qua quá trình xã hội hóa, cá nhân học hỏi được khả năng đáp ứng yêu cầu, kỳ vọng của những người khác, học được cách nhìn nhận về chính bản thân như một thực thể riêng biệt, độc lập, tách rời khỏi các thực thể khác, các cá nhân khác. Đứa trẻ mới sinh không có khả năng này, không có khái niệm “cái tôi”. Sự nhận biết về bản thân được coi là một phần quan trọng của sự xã hội hóa và cá thể hóa.
Nhà xã hội học Charles Horton Cooley đưa ra lý thuyết “soi gương tự phản thân”. Theo ông xã hội vận hành như một tấm gương, qua tấm gương đó cá nhân có thể quan sát hành vi riêng của mình thông qua phản ứng của những cá nhân khác. Dần dần cá nhân “mã hóa” (lý giải) những phản ứng đó thành những thông tin… nhờ đó cá nhân hiểu được cái tôi.
Như vậy, quan niệm về cái tôi của một cá nhân là kết quả của sự tương tác qua lại với những cá nhân khác. Mặt khác, quan niệm về cái tôi của một cá nhân sẽ khiến cá nhân có những hành động tương ứng: xấu hổ khi nhận được phản ứng tiêu cực, hoặc tự hào khi nhận được phản ứng tích cực… Tức là “cái tôi” còn đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định cách thức hành động trong các mối quan hệ xã hội.
Như vậy, “cái tôi” là kết quả của tương tác xã hội và cũng ảnh hưởng lên các tương tác đó. Sự phát triển của cái tôi mang tính xã hội. Nó bắt đầu ngay từ thời thơ ấu và diễn ra suốt cả cuộc đời. Các cá nhân phát triển khả năng để nhìn nhận chính mình một cách khách quan với tư cách là chủ thể của hoạt động, và đồng thời là đối tượng của sự đánh giá.
+ Trong quá trình phát triển của cái tôi, những người khác có vai trò rất quan trọng. Ở phạm vi này, các nhà xã hội học phân biệt những người khác nói chung và những người khác có ý nghĩa.
• Những người khác nói chung: là khái niệm do George Herbert Mead khởi xướng và phát triển. Theo tác giả, khi một cá nhân sống trong xã hội thì xã hội nhất định sẽ dành cho cá nhân đó những mong đợi, kỳ vọng. Các điều mong đợi đó ở những con người khác nhau kết hợp lại được gọi là “người khác nói chung”. Khi cá nhân phán xét chính mình thì dường như cá nhân cũng đang là một người khác. Thông qua quá trình đóng vai, cá nhân cũng hiểu biết về người khác hơn và phát triển hơn
Khi trẻ phát triển có các kỹ năng và thông tin, trẻ bắt đầu đóng vai nào đó. Ví dụ một bé gái có thể đóng vai cô giáo. Khi đó bé tạm thời đảm nhiệm các công việc của cô giáo (trở thành người khác nói chung) và bắt đầu có một số ý niệm về thái độ, cách cư xử của người giáo viên.
• Những người khác có ý nghĩa: đó là những người có ảnh hưởng lớn đến thái độ hành vi của cá nhân. Cá nhân nỗ lực thực hiện hành động để làm vừa lòng những người khác có ý nghĩa và mong muốn tuân theo lời khuyên, sự chỉ bảo của họ. Ví dụ, một huấn luyện viên uy tín là người khác có ý nghĩa với các vận động viên của ông ta. Đối với đa số trẻ nhỏ, cha mẹ là người khác có ý nghĩa.
Con người càng sống và hoạt động giữa xã hội loài người thì số người quan trọng trong vai trò “người khác có ý nghĩa” sẽ nhiều lên.
– Sự hình thành con người mới và sự phát triển toàn diện con người là một trong những mục tiêu của nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Việc xây dựng con người không phải là một quá trình đơn giản. Đó là một quá trình đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái đúng và cái sai, cái thiện và cái ác, cái tiên tiến và cái lạc hậu. Quá trình xây dựng những con người cụ thể lại diễn ra trong những môi trường khác nhau về kinh tế, về lứa tuổi, về giới tính, trong những phạm vi xã hội khác nhau (gia đình, tập thể sản xuất, nhà trường, tổ chức xã hội,…).
Trong giai đoạn hiện nay, con người mới phải đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phải đáp ứng được sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa của đất nước. Điều quan trọng là phải nâng cao ý thức tự giác của con người, để mỗi người tích cực rèn luyện phẩm chất đạo đức, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, yêu Chủ nghĩa Xã hội. Đặc điểm đó phải được thể hiện sinh động trong cuộc sống hàng ngày như hiếu thảo với cha mẹ, tôn sư trọng đạo, đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, thủy chung trong tình yêu, tình vợ chồng,…
Tác giả: Lê Ngọc Lan
Tài liệu tham khảo
[1] Hồ Chí Minh. “Vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội”. NXB Sự thật, 1970, tr. 177.
[2] Giinter Endrweit. “Các lý thuyết xã hội học hiện đại”. NXB Thế giới, 1999, tr. 55.
[3] George Herbert Mead, “Bản thân và Xã hội, Chicago”. Đại học Chicago, 1934.
Bạn đang xem bài viết:
Xã hội hóa cá nhân là gì?
Link https://vnlibs.com/xa-hoi-hoc/xa-hoi-hoa-ca-nhan-la-gi.html