Mặc dù đất nước mới bước vào thế kỷ XXI được hơn mười năm, song đây lại là một thập kỷ có nhiều biến động trên tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội, hơn một thập kỷ đánh dấu sự hội nhập mạnh mẽ của Việt Nam với thế giới và những thay đổi sâu sắc trong đời sống xã hội trong nước.
Có thể nói, đường lối đổi mới của Đảng và Chính phủ bắt đầu từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX đến nay vẫn đang được cả xã hội tiếp tục duy trì và phát triển. Các chính sách đổi mới đó đã theo sát từng giai đoạn phát triển của đất nước, tạo ra nhiều lực đẩy cho phát triển xã hội và vẫn đang ngày càng được triển khai sâu rộng trong từng lĩnh vực xã hội và trong từng bối cảnh cụ thể.
1. Đổi mới kinh tế.
Chính sách đổi mới ở nước ta được bắt đầu với việc đổi mới về kinh tế và được định nghĩa là quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa. Năm 1986, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 6, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức đề ra đường lối Đổi mới và bắt đầu tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhưng phải đến năm 1988, khi Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (hay còn gọi là Khoán 10) thì luồng gió đổi mới mới chính thức đi vào đời sống nhân dân, nhất là nông dân. Sau khi Nghị quyết 10 (Nghị quyết về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động) được thực hiện thì sản xuất nông nghiệp đã thực sự phát triển và cũng chỉ một năm sau – năm 1989 – Việt Nam đã xuất khẩu được 1,2 triệu tấn gạo.
Trong không khí cả nước đổi mới và đã thu được những kết quả bước đầu, từ năm 1990, Đảng và Nhà nước chủ động đưa ra hàng loạt chính sách tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế như: năm 1990, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân ra đời nhằm thể chế hóa chính thức và đầy đủ hơn chủ trương phát triển kinh tế tư nhân; năm 1993, Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ tài chính với các tổ chức tài chính quốc tế;
Luật Doanh nghiệp ra đời năm 2000, Luật Đầu tư nước ngoài ra đời năm 2001; năm 2002, Nhà nước chủ trương tự do hóa lãi suất cho vay đồng Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng; năm 2005, Luật Cạnh tranh chính thức có hiệu lực; năm 2006, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 10 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Nghị quyết trong đó có việc chấp nhận cho đảng viên làm kinh tế tư nhân và vào cuối năm này, Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới.
Đặc biệt là năm 2008, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, trong đó nhấn mạnh việc đổi mới nông thôn một cách toàn diện, xây dựng nông thôn mới, xây dựng các mục tiêu cụ thể đến năm 2020 và các kế hoạch thực hiện một cách cụ thể tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Các nhiệm vụ cơ bản được xác định là: Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn gắn với phát triển các đô thị; Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nhất là vùng khó khăn; Đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả ở nông thôn;
Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất. tinh thần của nông dân; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị – xã hội ở nông thôn, nhất là Hội Nông dân.
Chính sách này hiện đang được triển khai rộng khắp trong cả nước và tạo ra diện mạo mới cho nông thôn nói riêng và cho đất nước nói chung. Từ những bước chuyển mình đó, kinh tế Việt Nam dần dần xác lập được vị thế và trở thành một trong những nền kinh tế năng động bậc nhất châu Á.
Nhìn lại hơn 20 năm đổi mới, chúng ta không thể không nhắc đến những thành tựu ngoạn mục về tăng trưởng kinh tế đất nước như: năm 2006, tổng sản phẩm trong nước tăng 8,2%, GDP bình quân đầu người đạt 720 USD, tăng 80 USD so với năm 2005, kim ngạch xuất khẩu gạo đạt 1,2 tỷ USD/năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 10,2 tỷ USD/năm (cả vốn đăng ký mới và bổ sung),…
Trong giai đoạn suy thoái kinh tế chung, năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế của việt Nam vẫn đạt 6,18%, năm 2009 đạt 5,32% và được xếp vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới, năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta đạt 6,78% (cao hơn chỉ tiêu kế hoạch (6,5%) đã đề ra). Năm 2011, con số này là 5,89%² và dự kiến năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ quay lại ở mức 6 – 6,5%.
Chính những con số này đã góp phần đưa Việt Nam vào tốp các quốc gia có mức tăng trưởng tốt nhất thế giới³. Hàng loạt các con số về sự tăng trưởng kinh tế đã chứng tỏ Việt Nam đang có một tốc độ tăng trưởng kinh tế khả quan. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá so sánh gấp hai lần so với năm 2000, theo giá thực tế đạt khoảng 106 tỷ USD, gấp 3,4 lần và GDP bình quân đầu người đạt 1.200 USD, nước ta đã ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP từ 22,7% năm 1990 lên 36,8% năm 2000 và khoảng 40% năm 2010; tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 38,7% năm 1990, xuống còn 24,3% năm 2000 và còn khoảng 21% năm 2010; tỷ trọng dịch vụ từ 38,6% năm 1990 tăng lên 39,1% năm 2000 và khoảng 39% năm 2010. Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 73,02% năm 1990, xuống còn 63% năm 2000 và khoảng 50% năm 2010. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng cao, khoảng 41% GDP, trong đó vốn trong nước khoảng 70%.
Trong 10 năm (2001 – 2010), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký ước đạt 168 tỷ USD, thực hiện ước đạt 59 tỷ USD; hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cam kết ước đạt 43 tỷ USD, giải ngân 20 tỷ USD. Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII đang trở thành một nguồn vốn đáng kể trong nền kinh tế. Năng lực sản xuất của nhiều ngành kinh tế tăng mạnh. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm.
Thu ngân sách năm 2010 so với 2000 gấp hơn 4 lần, năm 2011 tăng 20,6% so với năm 2010 (mục tiêu đề ra trong Nghị quyết số 11 của Chính phủ là tăng 7 – 8%), cơ cấu nguồn thu chuyển biến tích cực, tỷ trọng thu nội địa tăng nhanh, từ 56% năm 2000 lên 64,6% năm 2010. Kim ngạch xuất khẩu năm 2010 gấp hơn 4 lần so với năm 2000; năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 96,3 tỷ USD, tăng trưởng 33,3% so với năm 2010, vượt hơn 3 lần chỉ tiêu Quốc hội đề ra (10%) và cũng là tốc độ tăng cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây.
Một số nông sản xuất khẩu đứng hàng đầu thế giới và khu vực: xuất khẩu gạo, cà phê của Việt Nam đứng thứ hai, hồ tiêu, hạt điều đứng thứ nhất, chè xếp thứ năm, thủy sản xếp thứ mười thế giới; cao su xếp thứ nhất Đông Nam Á. Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 24,2% năm 2000 lên hơn 30% năm 2010, diện tích nhà ở tăng từ 8m²/người lên 13,5m²/người và dự kiến tới năm 2015, tỷ lệ đô thị ở nước ta sẽ là 38%.
Tốc độ tăng trưởng và đa dạng các khu vực, các thành phần kinh tế đã khiến cho đời sống của các tầng lớp nhân dân trong nước ngày một cải thiện, tạo điều kiện cho sự phát triển các lĩnh vực khác trong xã hội, góp phần ổn định chính trị cũng như đời sống xã hội cho nhân dân.
Trong sự tăng trưởng kinh tế đó có sự đóng góp quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân. Chính vì vậy, vai trò của doanh nhân rất được đề cao. Điều này khác hẳn với xã hội Việt Nam truyền thống, doanh nghiệp tư nhân và doanh nhân thường không được nhìn nhận đúng với vai trò tích cực của họ, thậm chí không ít người còn bị khinh rẻ.
Việc tổ chức những cuộc gặp mặt doanh nhân trong và ngoài nước, hội thảo về văn hoá doanh nhân, chính thức có ngày doanh nhân Việt Nam góp phần định hướng xã hội nhìn nhận lại và đánh giá đúng vai trò của doanh nhân đối với sự phát triển của đất nước.
Theo cách xác định hiện nay của Chính phủ, Việt Nam có các thành phần kinh tế sau: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Một trong những biện pháp mà Đảng và Chính phủ Việt Nam thực hiện để khu vực kinh tế nhà nước trở thành chủ đạo của nền kinh tế là thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước.
Tuy nhiên, từ những năm 1990 cho đến nay, Việt Nam đã liên tục thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Mặc dù Đảng và Nhà nước chủ trương ưu tiên phát triển các thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, song tốc độ tăng trưởng của hai thành phần này lại thấp hơn so với kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Đến thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, sau hơn 20 năm đổi mới, chúng ta có đủ thời gian và những trải nghiệm để nhận thấy sự phát triển kinh tế nóng như vậy ở Việt Nam, bên cạnh nhiều mặt tích cực không thể phủ nhận cũng đã bộc lộ những hạn chế: việc thực hiện kinh tế thị trường nhưng do chưa có kinh nghiệm quản lý nên dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, ô nhiễm môi trường và các tệ nạn xã hội là điều không thể tránh khỏi; nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng chỉ số năng lực cạnh tranh ở mức thấp, gây lãng phí tài nguyên; nền kinh tế vẫn nằm ở nhóm nước đang phát triển.
Trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp vẫn chiếm 76,2% (2002), nền kinh tế vẫn chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả; Một số thị trường vẫn chưa được thiết lập đầy đủ như: thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ…
Một số thể chế pháp luật và hành chính cần thiết cho nền kinh tế thị trường vẫn chưa được quy định hay đã được quy định nhưng không được thực hiện, gây ra tình trạng tham nhũng, cửa quyền…, làm chỉ số minh bạch của môi trường kinh doanh thấp: Sau 20 năm đổi mới, đồng tiền Việt Nam vẫn là đồng tiền không có khả năng chuyển đổi và nhiều quốc gia, tổ chức (như Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản) vẫn không công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường.
Những mặt tích cực và hạn chế đó trong quá trình tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ sau thời kỳ Đổi mới đã kéo theo sự đổi mới của nhiều lĩnh vực khác trong xã hội và vì vậy, thập niên đầu thế kỷ XXI đã và đang là một thập niên có nhiều biến động.
2. Đổi mới chính trị, văn hóa, xã hội.
Do bối cảnh đặc biệt của Việt Nam nên đổi mới kinh tế đi trước nhiều phương diện đổi mới khác. Trong đó, đổi mới chính trị chưa tiến kịp đổi mới kinh tế cũng là điều dễ hiểu. Hệ thống chính trị của chúng ta trước đây chủ yếu là một hệ thống phục vụ các mục tiêu chiến đấu (mang nặng tính bao cấp, chỉ huy), qua hơn 20 năm đổi mới, về cơ bản đã tương thích được với đời sống chính trị của cộng đồng quốc tế.
Đến nay, đổi mới về chính trị ở Việt Nam là chuyển từ việc lãnh đạo kinh tế chủ quan, duy ý chí sang tôn trọng quy luật khách quan của thị trường. Năm 1994, Việt Nam bắt đầu thực hiện việc chất vấn của các đại biểu Quốc hội đối với các thành viên Chính phủ tại các kỳ họp Quốc hội. Đại hội Đảng lần thứ X lần đầu tiên lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, lần đầu tiên cho phép đảng viên tự ứng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đường lối đổi mới của Đảng được thể chế hóa thành pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho việc hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chỉ tính từ đầu năm 2001 đến tháng 7 – 2009, Quốc hội đã ban hành 133 luật, 337 Nghị quyết, 46 Pháp lệnh, 1.141 Nghị định và hàng chục nghìn các văn bản quy phạm pháp luật khác.
Chính phủ cũng đã chỉ đạo việc rà soát, hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật theo từng ngành, lĩnh vực, tạo cơ sở pháp lý cho việc vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao khả năng thu hút các nguồn lực phát triển cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trên phương diện văn hóa, mặc dù không nhanh chóng và đồng bộ như đổi mới kinh tế nhưng chủ trương, đường lối văn hóa của Đảng và Nhà nước ta đã tạo ra những tiền đề quan trọng cho sự đổi mới toàn xã hội. Trực tiếp lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước từ năm 1986, những nhận thức mới của Đảng về văn hóa đã có bước chuyển quan trọng. Nền văn hóa mà Đảng xác định phải xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với đặc trưng dân tộc, hiện đại, nhân văn. Một hệ thống lý luận văn hóa được hợp thành với lý luận chung trong quá trình đổi mới tư duy của toàn xã hội.
Tháng 11 năm 1987, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 05 về văn hóa – văn nghệ trong cơ chế thị trường; Nghị quyết của Bộ Chính trị và các kết luận về văn hóa, văn nghệ (tháng 11 năm 1988); Tháng 8 năm 1989, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 52-CT/TW về đổi mới và nâng cao chất lượng phê bình văn học – nghệ thuật; Tháng 6 năm 1990, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 61-CT/TW về công tác quản lý văn học nghệ thuật; Tháng 1 năm 1993, Ban Chấp hành Trung ương ra Nghị quyết Trung ương 4 về một số nhiệm vụ văn hóa – văn nghệ những năm trước mắt; Tháng 7 năm 1998, Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII ra Nghị quyết về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Toàn bộ tinh thần của Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) đã làm sáng lên bức tranh của nền văn hóa đất nước trong tương lai. Đó là nền văn hóa với vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, gắn với những vấn đề nảy sinh trong xu thế toàn cầu hoá và nền kinh tế thị trường.
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý về văn hóa thông qua việc thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng bằng luật pháp, pháp lệnh, nghị định, quy định, các chính sách văn hóa… Thông qua các chương trình hành động, phong trào thi đua yêu nước, qua hệ thống các thiết chế văn hóa để vận động quần chúng nhân dân thực hiện; biến chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng thành lực lượng vật chất, thành phong trào cách mạng; tạo ra những kết quả cụ thể nhằm nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, trực tiếp xây dựng nền tảng tinh thần cho xã hội.
Đến Đại hội Đảng lần thứ IX, những tư tưởng chủ yếu của Đảng về phát triển văn hóa được thể hiện trên cơ sở thực tiễn thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII), Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục nhấn mạnh vị trí của văn hóa trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam; khẳng định sức sống lâu bền của những quan điểm, tư tưởng nêu trong Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) trong đời sống xã hội, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; với ý nghĩa “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”.
Nghị quyết nhấn mạnh đó là tầm cao, chiều sâu của sự phát triển của dân tộc cũng như khẳng định và làm rõ vị trí của văn hóa trong đời sống dân tộc, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hội nghị Trung ương 10 (khoá IX) kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) và ra kết luận tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần cho xã hội, gắn kết và đồng bộ với phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt.
Tại Đại hội X, Đảng xác định tiếp tục phát triển sâu rộng, nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Gắn kết chặt chẽ hơn với phát triển kinh tế xã hội; Làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội; Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam; Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế; Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, sinh viên, học sinh, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa Việt Nam;
Đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, di sản văn hóa vật thể, phi vật thể; Kết hợp hài hoà giữa bảo tồn, phát huy với kế thừa và phát triển, giữ gìn di tích với phát triển kinh tế du lịch, tinh thần tự nguyện, tính tự quản của nhân dân trong xây dựng văn hóa: Đa dạng hoá các hoạt động của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
Để thực hiện được yêu cầu trên, trong xây dựng chính sách và tổ chức thực hiện, cần phải phát huy tính năng động, chủ động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, các hội văn học nghệ thuật, khoa học, trí thức, báo chí và các cá nhân; Xây dựng và phát triển chương trình giáo dục văn hóa, thẩm mỹ, nếp sống văn hóa hiện đại trong nhân dân; Phát huy tiềm năng, khuyến khích sáng tạo văn học, nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật;
Đồng thời, tăng cường quản lý nhà nước về văn hóa; Xây dựng cơ chế chính sách, chế tài ổn định; Tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa; Chống sự xâm nhập văn hóa độc hại, lai căng, phản động; Xây dựng, nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa; Tạo điều kiện cho các lĩnh vực xuất bản, thông tin đại chúng phát triển;
Nâng cao chất lượng tư tưởng văn hóa, hiện đại về mô hình, cơ cấu, cơ sở vật chất kỹ thuật; Xây dựng cơ chế quản lý khoa học, phù hợp; Đi đôi với phát huy trách nhiệm công dân của văn nghệ sỹ; Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, cơ cấu tổ chức của các hội văn học – nghệ thuật từ trung ương đến địa phương.
Cũng trong nhiệm kỳ Đại hội X, đối với văn hóa, văn học nghệ thuật, Đảng đã dành sự quan tâm cho một số lĩnh vực tinh túy và nhạy cảm thường xuyên tác động đến đời sống tinh thần của xã hội. Đó là hai kết luận quan trọng của Ban Bí thư (số 83 ngày 27/6/2008) và của Bộ Chính trị (số 51 ngày 22/7/2009) chỉ đạo việc tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 27 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về “Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội”; tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện Chỉ thị này.
Nghị quyết số 23- NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị về “tiếp tục xây dựng và phát triển văn học – nghệ thuật trong thời kỳ mới”. Theo đó sẽ có các đề án của các bộ, ban, ngành phối hợp triển khai nhằm đưa các quan điểm chỉ đạo, những chủ trương và giải pháp của Đảng về văn học, nghệ thuật thành hiện thực phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân.
Quá trình tiến hành sự nghiệp đổi mới, vấn đề định hướng phát triển đất nước là cực kỳ quan trọng. định hướng đúng để đạt tới mục tiêu mà cương lĩnh năm 1991 về xây dựng, đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã đề ra, được Đại hội VII của Đảng thông qua. Theo đó, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa để phấn đấu đến năm 2020, cơ bản nước ta trở thành nước công nghiệp.
Nhưng… điều cốt lõi là chất lượng phát triển, phát triển muốn đạt chất lượng nhất thiết phải có nội dung văn hóa – xã hội. Phát triển văn hóa – xã hội và xây dựng con người luôn luôn gắn bó với định hướng chính trị và định hướng phát triển kinh tế đất nước. Và cũng như phát triển kinh tế, phát triển văn hóa cũng phải coi trọng chất lượng, phải đúng hướng. Bác Hồ từng nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Những con người đó phải được chăm lo cả về bản lĩnh chính trị, tư tưởng, học vấn, sức khỏe, trí tuệ, tình cảm và đạo đức, đó chính là văn hóa.
Nền văn hóa định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua các chính sách văn hóa mang tính nhân văn, vì con người; phát huy tiềm năng, trí tuệ con người để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới và của nền kinh tế tri thức trong xu thế hội nhập quốc tế. Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng, ý nghĩa, vai trò, vị trí của văn hóa trong đời sống dân tộc và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) của Đảng đã đề cập đến chính sách văn hóa trong nhiệm vụ thứ 10 đó là: “củng cố, xây dựng và hoàn thiện các thiết chế văn hóa”.
Nhiệm vụ chỉ rõ việc phải hoàn chỉnh các văn bản pháp luật về văn hóa, nghệ thuật, thông tin trong điều kiện của cơ chế thị trường; ban hành các chính sách khuyến khích sáng tạo văn hóa và nâng mức đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Do tầm quan trọng, tỉnh cấp thiết của nhiệm vụ này nên Nghị quyết đã ghi nội dung đó vào giải pháp thứ II trong cụm các giải pháp xây dựng và ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa.
Trong Hội nghị Trung ương 10 (khóa IX), Đảng ta khẳng định cần tiếp tục thực hiện đầy đủ 5 quan điểm chỉ đạo đã được Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) đề ra. Trong kết luận của Hội nghị Trung ương 10, mục tiêu đầu tiên về xây dựng và phát triển văn hóa trong những năm tiếp theo nêu rõ: “Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ cả ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện, bền vững của đất nước”.
Gần đây nhất, trong Văn kiện chính thức của Đại hội Đảng lần thứ XI, mục tiêu chăm lo phát triển văn hóa trong bối cảnh mới lại một lần nữa được đặt ra (mục VI của Văn kiện)) và nhấn mạnh vào 4 mục tiêu cụ thể là: Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng; Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống, cách mạng; Phát triển hệ thống thông tin đại chúng; Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hóa.
Như vậy, Đảng ta luôn quan tâm đến văn hóa và càng coi trọng hơn trong thời kỳ đổi mới, trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Đại hội Đảng các kỳ VIII, IX, X, XI cũng như các kết luận, Chỉ thị của Hội nghị Trung ương các khoá trên đều thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng trong việc nhìn nhận, đánh giá, chỉ đạo xây dựng và phát triển văn hóa, gắn chặt với chiến lược xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Theo hướng đó, văn hóa phải thực sự trở thành động lực và mục tiêu của sự phát triển, đồng thời đòi hỏi một cơ chế chính sách đảm bảo cho văn hóa và kinh tế cùng phát triển.
Sau hơn 20 năm đổi mới, không chỉ kinh tế, chính trị, văn hóa mà mọi mặt của đời sống xã hội cũng có những sự thay đổi. Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê, đã có khoảng 80 – 85% gia đình tự đánh giá là có mức sống khá hơn so với trước. Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân đầu người đã tăng từ 200 USD năm 1990 lên 850 USD năm 2007.
Theo các con số mà GS. Phạm Xuân Nam đã nói tới trong báo cáo về tình hình xã hội Việt Nam trong quá trình đổi mới thì từ năm 1996 tới nay, mỗi năm trung bình Chính phủ Việt Nam dành tới 24 – 26% ngân sách nhà nước để chi cho các chương trình dân số – kế hoạch hóa gia đình, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, phát triển giáo dục, phát triển y tế, xây dựng mạng lưới an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội,…
Về việc làm, từ năm 1991 đến 2000, trung bình mỗi năm cả nước giải quyết cho khoảng 1-1,2 triệu người có công ăn việc làm, từ năm 2001 đến 2005, con số đó tăng lên 1,4 – 1,5 triệu người. Năm 1993, Chính phủ lần lượt ban hành các chính sách có liên quan đến xóa đói giảm nghèo trên phạm vi cả nước. Năm 1995, báo cáo quốc gia của Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Thượng đỉnh Copenhagen về phát triển xã hội đã khẳng định: xóa đói giảm nghèo là một chính sách quốc gia quan trọng. Tiếp đó, Chính phủ lại cho xây dựng và ban hành Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo 2001 – 2010. Kết quả là tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam, theo chuẩn quốc gia, đã giảm từ 30% năm 1992 xuống còn gần 7% năm 2005.
Về giáo dục, Việt Nam đã và đang thực hiện đổi mới giáo dục: chuyển từ lối giáo dục từ chương (vốn là truyền thống trong cách giáo dục Á Đông) sang phương pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm, tăng tính chủ động cho học sinh và tấn công vào căn bệnh thành tích. Cũng theo đánh giá của GS. Phạm Xuân Nam, sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình đào tạo.
Hệ thống các trường dân tộc nội trú do Nhà nước đài thọ hoàn toàn cho con em các dân tộc thiểu số đã được mở ra ở tất cả các tỉnh miền núi và các huyện vùng cao. Năm 2000, cả nước đạt chuẩn quốc gia về xóa nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Tính đến cuối năm 2007, có trên 40 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập Trung học cơ sở.
Tỷ lệ người lớn (từ 15 tuổi trở lên) biết chữ đã tăng từ 85% cuối những năm 80 của thế XX trước lên trên 90% năm 2005. Từ năm 2001 đến nay, trung bình hằng năm quy mô đào tạo nghề cho người lao động tăng 10%, quy mô đào tạo cao đẳng, đại học tăng 7,4%. Sinh viên nghèo được ngân hàng chính sách xã hội cho vay tiền với lãi suất ưu đãi để theo học.
Ngoài ra, chương trình mục tiêu quốc gia về dân số và kế hoạch hóa gia đình thời kỳ 1991 – 2000 đã đưa tỷ lệ tăng dân số giảm từ 2,1% xuống 1,36%. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ, các chỉ số sức khỏe cộng đồng được nâng lên rõ rệt. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 42% năm 1995 xuống còn 25% năm 2005.
Công tác tiêm chủng mở rộng được thực hiện: các bệnh bại liệt, thiếu vitamin A, uốn ván sơ sinh cơ bản được loại bỏ. Tính đến năm 2005, các bệnh bướu cổ, sốt rét ở đồng bào dân tộc thiểu số đã giảm 60% so với năm 1995. Tuổi thọ trung bình của người dân là 63 tuổi năm 1990 tăng lên 73,7 tuổi năm 2005.
Trong lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam chuyển từ chú trọng quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa sang chú trọng quan hệ hợp tác đa phương, làm bạn với tất cả các nước, trên quan điểm bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Xu thế hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ với việc Việt Nam chủ trương làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị.
Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập được quan hệ ngoại giao với 170 nước trên thế giới, ký kết hiệp định thương mại đa phương và song phương với trên 80 quốc gia. Đi cùng với một loạt các chính sách cởi mở đó là quá trình nhập cuộc đầy khó khăn nhưng khá thành công của Việt Nam với khu vực và toàn cầu. Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á – Âu, gọi tắt là ASEM năm 1996.
Năm 1998, Việt Nam trở thành thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, gọi tắt là APEC; năm 2007, Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới WTO,… Bên cạnh đó, Việt Nam cũng dần dần tham gia một cách chủ động hàng loạt các diễn đàn kinh tế, chính trị lớn trong khu vực và quốc tế, các hoạt động đó đã giúp nâng cao vị thế và thể hiện thiện chí của Việt Nam trong giao lưu quốc tế.
Việt Nam đã chủ động đàm phán và ký kết với nhiều nước trong và ngoài khu vực những hiệp định về quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện cho thế kỷ XXI như: Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (2001), Hiệp định về biên giới trên bộ, Hiệp định về phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định nghề cá với Trung Quốc (2000), Hiệp định về phân định thềm lục địa với Indonesia (2003), Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (2008), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Chi Lê (2011),…
Các mối quan hệ song phương và đa phương đó đã góp phần không nhỏ vào việc củng cố môi trường hòa bình, ổn định và tạo mọi điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Có thể nói, Việt Nam ngày càng tăng cường tham gia vào các tổ chức quốc tế và đóng vai trò quan trọng trong các tổ chức ấy.
Những đóng góp của Việt Nam vào các hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế đã góp phần từng bước nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Chính điều này đã góp phần không nhỏ tạo nên diện mạo mới cho tình hình chính trị, xã hội của Việt Nam trong những năm đầu của thế kỷ XXI.
Có lẽ chưa có giai đoạn nào từ sau thời kỳ Đổi mới, tình hình xã hội Việt Nam lại có sự chuyển đổi rõ rệt như thập niên đầu thế kỷ XXI. Từ xã hội bao cấp chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và sự hội nhập quốc tế là một sự thay đổi lớn và mạnh của Việt Nam, chính điều đó đã và đang dần dần thay đổi bộ mặt xã hội Việt Nam.
Những sự chuyển đổi khi nhanh chóng, khi từ từ, khi mạnh mẽ, khi vừa phải, song tất cả đều đã góp phần tạo nên bức tranh đa sắc màu của một giai đoạn xã hội chuyển đổi. Bối cảnh chuyển đổi đó đã tác động không nhỏ và là nền tảng quan trọng cho việc hình thành và phát triển văn hóa mạng ở nước ta mà chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu ở các chương sau.
3. Toàn cầu hóa và những sự kết nối.
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, được tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, v.v… trên quy mô toàn cầu. Nói cách khác, toàn cầu hóa là sự phụ thuộc qua lại không ngừng giữa các quốc gia và các cá nhân. Sự phụ thuộc qua lại có thể xảy ra trên lĩnh vực kinh tế, công nghệ, môi trường, văn hoá hay xã hội…
Chính vì vậy, cần phân biệt toàn cầu hoá kinh tế với khái niệm rộng hơn là toàn cầu hoá nói chung. Thuật ngữ toàn cầu hoá xuất hiện vào những năm 50, với sự phổ biến các phương tiện vận tải có động cơ và sự gia tăng các trao đổi thương mại; và được chính thức sử dụng rộng rãi từ những năm 90 của thế kỷ XX.
Dominique Wolton (2003) cho rằng, toàn cầu hóa được xác định bằng 3 trụ cột chính là: toàn cầu hóa về chính trị (gắn với sự thành lập Liên hợp quốc và Tuyên ngôn Nhân quyền sau Chiến tranh Thế giới thứ hai trong khi Từ điển Bách khoa thư mở lại gắn với sự lan rộng của chủ nghĩa tư bản từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia đang phát triển), toàn cầu hóa về kinh tế (gắn với sự mở cửa của thương mại quốc tế, của “tự do thương mại”), toàn cầu hóa về văn hóa và truyền thông (gắn với sự phát triển của kỹ thuật, công nghệ, truyền thông khiến cho quan hệ giữa các khu vực trên thế giới ngày càng gần gũi hơn dẫn tới một nền văn minh toàn cầu, một ngôi làng toàn cầu).
Một cách thông thường nhất, toàn cầu hoá được hiểu giống như một thị trường tự do với những chính sách kinh tế tự do. Nhưng từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay toàn cầu hoá được xác định với ít nhất hai ý nghĩa nữa đó là: sự gia tăng hội nhập giữa các vùng khác nhau trong kinh tế toàn cầu và sự gia tăng rộng rãi hệ thống vận chuyển và kết nối các dòng chảy văn hoá theo nhiều chiều hướng khác nhau (Edelman Marc, Angelique Haugerud, 2004).
Có thể nói, quá trình toàn cầu hóa hiện nay gắn bó chặt chẽ với những quá trình giao lưu vượt phạm vi quốc gia, gắn với những xã hội đang chuyển đổi và vì vậy, thế giới được nhìn nhận trong sự gia tăng hội nhập kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá. Nhiều xã hội hiện nay đã có những chiến lược phát triển với khả năng điều khiển sự gia tăng những dòng chảy xuyên xã hội của hình ảnh, thông tin, sản phẩm thương mại, và con người đi cùng với quá trình toàn cầu hoá.
Toàn cầu hóa còn được gắn kết với các thuật ngữ như “dòng chảy”, “lưu thông”, “dòng chảy toàn cầu”, “kết nối toàn cầu”, “đặc tính toàn cầu”, “bối cảnh toàn cầu”,… (Arjun Appadurai, 1991, 1997; Anna Tsing 2000, 2005,…), hay “công dân toàn cầu”, “làng toàn cầu”, “mạng toàn cầu”,… Những khái niệm này làm thay đổi cơ bản cách hiểu cũng như giá trị về biên giới, lãnh thổ, chính trị, văn hóa,… các đường biên giới hành chính trở nên mờ nhạt hơn bao giờ hết, các sản phẩm công nghệ nhanh chóng phổ biến trên toàn cầu.
Hầu như không có quốc gia nào còn khép kín hoàn toàn và chỉ duy trì tính địa phương mà không có sự xâm nhập hoặc chịu tác động của toàn cầu hóa. Những khái niệm này cũng làm thay đổi một cách cơ bản cách nhìn, cách nghĩ, quan niệm cũng như những trải nghiệm thực tế về không gian và thời gian. Toàn cầu hóa đưa các quốc gia, các vùng lãnh thổ, các địa phương đến gần nhau hơn, khiến cho các phạm vi không gian được mở rộng trong sự nối kết của những mạng lưới.
Ví như Tomforde (2006) cho rằng, thuyết khái niệm về không gian gần đây đã có một vai trò quan trọng trong việc kết nối các địa phương và toàn cầu (học giả này tới sự hình thành mạng lưới toàn cầu hải ngoại). Kearney (1995), Massey (1996) nói tới quá trình “giải lãnh thổ hóa” (giải thể biên giới, ranh giới,…) như một hậu quả không thể tránh khỏi của toàn cầu hóa và khi toàn cầu hóa đã trở thành xu hướng không thể khác ở khắp các quốc gia thì các nền văn hóa cũng “không còn cố định ở một nơi nhất định” (Gupta và Ferguson 1997: 4).
Như vậy, toàn cầu hóa đã góp phần định vị lại không gian, thời gian và làm thay đổi cũng như tạo dựng nên những quan điểm khác về chúng, người ta đã nghĩ tới những khung thời gian linh hoạt, đa dạng, không theo những nhịp điệu truyền thống và một không gian rộng, ít còn khoảng cách, một “không gian toàn cầu”.
Trong không gian và thời gian mang tính toàn cầu đó, các thành tựu khoa học kỹ thuật cũng như những sáng tạo văn hóa nhanh chóng được chia sẻ, phổ biến khắp thế giới và trở thành những giá trị toàn cầu. Có lẽ chính điều này đã góp phần làm nên một “thế giới phẳng” – biểu hiện sinh động khi nói về toàn cầu hóa.
Thuật ngữ “thế giới phẳng” được dùng để nói về kết quả của toàn cầu hóa trong những năm đầu của thế kỷ XXI khi các nhân tố lớn liên quan đến kinh tế và khoa học kỹ thuật trên thế giới cùng nhau tác động, khiến cho các mô hình xã hội, chính trị bị thay đổi và thế giới trở nên phẳng hơn bao giờ hết khi sự tiếp xúc giữa các cá nhân trở nên dễ dàng và chặt chẽ hơn trước.
Được xem là một thành tựu vô cùng to lớn của khoa học kỹ thuật đương đại, internet nói riêng và truyền thông mới nói chung đã tạo ra một cuộc cách mạng công nghệ và chính cuộc cách mạng này đã được xem là nhân tố quan trọng định hình nên quá trình toàn cầu hóa, trải rộng quá trình này ở khắp nơi trên thế giới và trở thành một trong những trụ cột của toàn cầu hóa hiện nay.
Chính sự ra đời của mạng toàn cầu đã là động lực to lớn đẩy nhanh và đẩy mạnh những quá trình kết nối xuyên quốc gia, khiến cho mỗi cá nhân khi tham gia vào mạng này đều có sự kết nối dễ dàng và chặt chẽ, không còn bị hạn chế bởi thời gian và không gian, mọi sự chia sẻ và tiếp nhận thông tin đều vô cùng nhanh chóng và cập nhật. Kết nối đã trở thành nhu cầu không thể thiếu của con người hiện nay và internet trở thành thước đo mức độ hiện đại, mức độ tham gia vào toàn cầu hóa của mỗi cá nhân, mỗi vùng miền, mỗi quốc gia.
Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam không đứng ngoài quá trình toàn cầu hóa mà ngược lại, tham gia rất tích cực vào quá trình này, đặc biệt là sau chính sách Đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Năm 2003, Pew Research Center (một tổ chức chuyên điều tra và cung cấp thông tin về thái độ của dân chúng đối với các vấn đề toàn cầu – NTPC) đã thực hiện một cuộc điều tra về cách nhân dân các nước cảm nhận và trải nghiệm về toàn cầu hóa.
Kết quả rất đáng ngạc nhiên: “Trên hầu hết các khía cạnh, người Việt Nam đón nhận toàn cầu hóa một cách nồng nhiệt hơn bất cứ dân tộc nào khác trong cuộc điều tra này”. Có thể nói, phương diện nào của toàn cầu hóa cũng đều có ở Việt Nam và điều đó đã tạo ra những ảnh hưởng không thể phủ nhận.
Có rất nhiều ảnh hưởng tích cực như: Về mặt kinh tế, toàn cầu hóa giúp cho Việt Nam tiếp thu nhanh chóng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ của nhân loại, trên cơ sở đó thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra những hiệu quả rõ rệt cho nền kinh tế như GDP tăng, thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài và những sự hợp tác liên quốc gia, nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp;
Về mặt chính trị, toàn cầu hóa đẩy mạnh quá trình đổi mới cơ chế quản lý, mở rộng và hợp tác chặt chẽ với các quốc gia trên thế giới, từ đó khẳng định và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; – tế; Về mặt văn hóa – xã hội, toàn cầu hóa tạo ra cơ hội tiếp xúc và giao lưu với các nền văn hóa khác nhau trên thế giới, tăng nhanh quá trình đô thị hóa, nâng cao trình độ dân trí và chất lượng cuộc sống cũng như mở rộng giao tiếp xã hội.
Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng mang tới cho Việt Nam không ít thách thức mà chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơn ở mục sau, song dù thế nào thì cũng phải thừa nhận rằng, toàn cầu hóa đã giúp cho xã hội Việt Nam có những sự thay đổi sâu sắc và toàn diện, trong đó nổi lên vai trò vô cùng quan trọng của sự kết nối mà internet nói riêng và truyền thông nói chung đang là phương cách hữu hiệu duy trì và làm mạnh sự kết nối đó. Kết nối mang tới cho chúng ta những sự giao lưu, hội nhập, tiếp biến, sự hiểu biết lẫn nhau, cơ hội hợp tác cũng như sự năng động, sáng tạo và cơ hội cải thiện vị thế, đồng thời xóa nhòa đi nhiều ranh giới.
Chúng ta hoàn toàn có thể trải nghiệm sự thay đổi này ngay trong cuộc sống thường ngày. Ví như hiện nay chỉ với một máy tính kết nối mạng, người sử dụng có thể đặt mua hàng, cập nhật thông tin, nói chuyện, học hành, kinh doanh,… ở khắp nơi trên thế giới. Chính điều này đã góp phần làm mờ nhạt dần các khoảng cách địa lý và theo đó là những ranh giới hay định kiến trong suy nghĩ của con người.
Ví dụ chỉ khoảng 2 thập kỷ trước đây, đi từ Hà Nội lên Hòa Bình (khoảng 70km) có khi phải cả ngày mới tới nơi và đường đi thì khá vất vả, mọi sự liên lạc đều hạn chế vì vậy nghĩ tới Hòa Bình, người sống ở Hà Nội thường nghĩ tới nơi “rừng thiêng nước độc”, nơi “xa xôi, heo hút”,… nhưng hiện nay, thời gian đi lại chỉ còn là 2 giờ và mọi phương tiện liên lạc đều dễ dàng thì khoảng cách địa lý ấy trở nên mờ nhạt hơn và suy nghĩ về không gian ấy cũng đã khác đi, gần gũi và không còn là quá khác biệt.
Tương tự như vậy, trước đây, việc đi lại qua biên giới quốc gia là rất khó khăn mà những người dân thường khó có thể nghĩ tới nhưng hiện nay, việc đó đã trở thành bình thường và vì vậy, các quốc gia không còn xa nhau về địa lý, về văn hóa cũng như về sự hiểu biết lẫn nhau.
Có thể thấy trong khoảng hai thập kỷ qua, Việt Nam đã tham gia tích cực vào sự “kết nối toàn cầu”, “dòng chảy toàn cầu”, “mạng toàn cầu” trên hầu khắp các phương diện, đặc biệt là văn hóa. Nhìn vào hầu hết các khía cạnh của văn hóa, chúng ta đều có thể dễ dàng nhận ra màu sắc toàn cầu trong đó, nhất là trong đời sống văn hóa thường ngày.
Có lẽ chỉ trong bối cảnh hiện tại, khi toàn cầu hóa đã “phủ sóng” rộng khắp thì ngay tại Việt Nam, dân chúng mới có thể đón nhận một cách nồng nhiệt coca-cola, KFC, mới có thể ngắm hoa anh đào, thưởng thức sushi, đọc truyện tranh Nhật Bản, nghe nhạc, xem phim Hàn Quốc, thưởng thức quốc họa Trung Hoa, lễ hội hóa trang Brazil, hip-hop, rap Việt, truyện Harry Potter, phim Hollywood, các thần tượng bóng đá, ca nhạc, điện ảnh quốc tế của giới trẻ,…
Sau những giờ phút căng thẳng với công việc và học tập, còn gì tuyệt vời hơn là được thư giãn với những chương trình gameshow truyền hình thực tế. Đầy hấp dẫn và mang lại niềm vui, gameshow không chỉ là nguồn giải trí mà còn là món quà tinh thần cho mọi lứa tuổi. Hãy cùng VNLibs.com khám phá danh sách gameshow Việt Nam như: “2 Ngày 1 Đêm”; “Biệt Đội Ngôi Sao”; “Bậc Thầy Săn Thưởng”; “Anh Trai Say Hi”; “Hành Trình Rực Rỡ”; “Rap Việt”; “Bài Hát Của Chúng Ta – Our Song Việt Nam”; “Anh Trai Vượt Ngàn Chông Gai”; “Chị Đẹp Đạp Gió Rẽ Sóng”; “Sao Nhập Ngũ”; “Vua Tiếng Việt”; “Nhanh Như Chớp”; “Người Ấy Là Ai”; “Bạn Muốn Hẹn Hò”; “Running Man Việt Nam”; “Ai Là Triệu Phú”; “Ơn Giời Cậu Đây Rồi”; “Người Mẫu Việt Nam – Vietnam’s Next Top Model”; “Ca Sĩ Giấu Mặt”;… truyền hình thực tế có lượt xem cao nhất, giúp bạn tìm thấy niềm vui và thư giãn mỗi ngày.
Sống trong một không gian giao lưu rộng mở như vậy, chúng ta đang được thỏa mãn về thông tin, về sự hiểu biết thế giới, hiểu biết văn hóa, được đến gần nhau hơn. được bình đẳng hơn trên phương diện tiếp cận thông tin và các cơ hội. Có lẽ chưa bao giờ nhu cầu về kết nối và hội nhập lại trở nên bức thiết và cần được đáp ứng như hiện nay với mỗi cá nhân và với cả xã hội, và vì thế, internet cùng các phương tiện truyền thông đa dạng khác đang ngày càng có chỗ đứng vững chắc và có ảnh hưởng to lớn đến toàn xã hội.
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Tài liệu tham khảo:
[1] Cổng thông tin điện tử Bộ Tài Chính (MOF). Link https://mof.gov.vn
[2] Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương (MOIT). Link https://moit.gov.vn
[3] Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI). Link https://www.mpi.gov.vn
[4] Cổng thông tin điện tử Bộ Thông Tin và Truyền Thông (MIC). Link https://mic.gov.vn
[5] Cổng thông tin điện tử Quốc Gia về Đầu Tư . Link https://vietnaminvest.gov.vn
[6] Tổng cục Thống Kê. Link https://www.gso.gov.vn
[7] Diễn đàn kinh tế Hồ Chí Minh. Link https://hef.gov.vn
[8] Viện Nghiên Cứu Chiến Lược, Chính Sách Công Thương. Link https://vioit.moit.gov.vn
[9] Diễn đàn kinh tế Việt Nam (17/02/2012), “Việt Nam có triển vọng tăng trưởng dài hạn tốt nhất khu vực”.
[10] Theo số liệu trên Tổng cục Thống Kê Việt Nam, (11/01/2009), “Chỉ số phát triển tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 1994 phân theo thành phần kinh tế và phân theo ngành kinh tế”.
[11] Phạm Xuân Nam, “Tổng quan về xã hội Việt Nam trong quá trình đổi mới để phát triển và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, số 8/2009, tr. 51-58.
[12] Dominique Wolton, “Toàn cầu hóa văn hóa”, Nxb Thế giới, 2006 (Đinh Thủy Anh, Ngô Hữu Long dịch từ nguyên bản tiếng Pháp
xuất bản năm 2003).
[13] Thomas Friedman, “Thế giới phẳng: Tóm lược Lịch sử thế giới thế kỷ XXI”. Nguyễn Quang A, Nguyễn Hồng Quang, Vũ Duy Thành, Lã Việt Hà, Lê Hồng Vân, Hà Thị Thanh Huyền biên dịch, Nhà xuất bản Trẻ, 2008.
Bạn đang xem bài viết:
Bối cảnh mạng xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XXI
Link https://vnlibs.com/mang-xa-hoi/boi-canh-mang-xa-hoi-viet-nam-dau-the-ky-xxi.html