Sự cần thiết quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Phân tích sự cần thiết của quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập tại Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện lập Quy hoạch mạng lưới tổ chức Khoa học và Công Nghệ công lập thời kỳ 2021-2030 tầm nhìn 2050.
1. Sự cần thiết và hoàn cảnh ra đời của Quy hoạch.
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành các đường lối, chủ trương định hướng cho phát triển và ứng dụng Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo như: Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội 10 năm 2021- 2030; Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045;
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển Khoa học và Công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế và Kết luận số 50-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW;
Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Các đường lối, chủ trương này cần được tiếp tục cụ thể hóa một bước thông qua Quy hoạch mạng lưới tổ chức Khoa học và Công nghệ công lập thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Thực hiện Quy hoạch mạng lưới tổ chức Khoa học và Công nghệ công lập thời kỳ 2016-2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã đạt những thành tựu quan trọng trong đóng góp cho tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần phòng chống thiên tai, bảo vệ tác động môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững di sản thiên nhiên; tiềm lực Khoa học và Công nghệ quốc gia được tăng cường.
Đặc biệt, qua thực tế đã khẳng định một số định hướng chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ phù hợp với Việt Nam như: Khoa học và Công nghệ phải đóng vai trò chủ đạo, là lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực chính của tăng trưởng kinh tế; phát triển mạnh mẽ Khoa học và Công nghệ để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh để phát triển Kinh tế - Xã hội nhanh và bền vững; gắn kết chặt chẽ khoa học xã hội và nhân văn với khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ; đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý và cơ chế hoạt động Khoa học và Công nghệ;...
Đây chính là những định hướng cần tiếp tục duy trì thừa kế trong Chiến lược phát triển Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2030 nhằm đưa nền Khoa học và Công nghệ Việt Nam phát triển lên một tầm vóc mới, là đột phá chiến lược để phát triển đất nước. Chiến lược phát triển Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2030 đồng thời cần khắc phục những hạn chế, tồn tại của Chiến lược 10 năm trước đã bộc lộ rõ trên thực tế.
Nổi bật là nhận thức về vai trò và hiệu quả của Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo có lúc có nơi còn hạn chế; thiếu gắn kết chặt chẽ giữa Khoa học và Công nghệ và đổi mới sáng tạo; Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển Kinh tế - Xã hội;
Pháp luật về đầu tư, tài chính và doanh nghiệp chưa thực sự đồng bộ với một số quy định của pháp luật về Khoa học và Công nghệ; trình độ khoa học, công nghệ quốc gia nhìn chung còn khoảng cách so với nhóm đầu khu vực; cơ chế khơi thông nguồn lực xã hội hoá đầu tư cho Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo còn bất cập;
Đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ tuy có tăng về số lượng nhưng thiếu các nhà khoa học đầu ngành, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; năng lực nghiên cứu ứng dụng của các viện nghiên cứu, trường đại học còn khiêm tốn, năng lực hấp thụ công nghệ, đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế; mối liên kết giữa nghiên cứu với đào tạo, giữa nghiên cứu với thị trường và doanh nghiệp còn yếu; còn có khoảng cách giữa nhận thức và hành động của các cấp, các ngành về vai trò của Khoa học và Công nghệ;…
Trong giai đoạn 10 năm tới, trên thế giới xuất hiện các xu thế mới như nhiều công nghệ mới được phát triển mạnh mẽ và ứng dụng rộng rãi; tăng cường gắn kết Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo với phát triển Kinh tế - Xã hội và môi trường; đổi mới quản lý Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo sẽ được tiếp tục đẩy mạnh trong giai đoạn tới; phân hóa mạnh mẽ trong phát triển Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo giữa các nước trên thế giới; sự dịch chuyển của chuỗi sản xuất cung ứng trên thế giới; cạnh tranh chiến lược, chiến tranh thương mại, tranh giành các nguồn tài nguyên, thị trường, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước sẽ ngày càng quyết liệt;…
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang lại cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Cạnh tranh chiến lược, chiến tranh thương mại, tranh giành các nguồn tài nguyên, thị trường, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước sẽ ngày càng quyết liệt. Các nước đang phát triển đứng trước nhiều thách thức mới.
Đại dịch Covid19 đang diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, gây ra suy thoái trầm trọng và khủng hoảng kinh tế toàn cầu, có khả năng kéo dài, làm thay đổi sâu sắc đến trật tự, cấu trúc kinh tế và phương thức quản trị toàn cầu, cách thức hoạt động kinh tế và tổ chức đời sống xã hội của thế giới. Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đóng vai trò quan trọng góp phần phòng, chống đại dịch Covid-19.
Có thể thấy, các xu thế Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo trên thế giới đang tác động sâu sắc, toàn diện đến quá trình phục hồi, phát triển bền vững, là nhân tố quyết định đến vai trò, vị thế của các quốc gia trong cục diện quốc tế đang định hình. Bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đại dịch Covid-19 đang làm thay đổi lớn đến thế giới, 3 trong đó có vai trò của Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo.
Giai đoạn 10 năm tới sẽ định hình thêm những cơ chế, luật lệ quốc tế, đặc biệt là liên quan đến Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, kinh tế số để phù hợp với bối cảnh mới. Ở trong nước, Đảng và Nhà nước chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, tích cực tiếp cận Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức và kinh tế số, nhấn mạnh vai trò đột phá chiến lược của Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo,…
Đây là những dự báo xu hướng mở ra thời cơ cho Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam phát triển vượt bậc, rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với thế giới và khu vực. Đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn đòi hỏi phải tập trung giải quyết ở tầm chiến lược. Xây dựng và thực thi Chiến lược phát triển Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2030 cho phép chủ động tận dụng những thời cơ và ứng phó có hiệu quả với các thách thức sẽ phải đối mặt, góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu đến 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.
Quy hoạch mạng lưới tổ chức Khoa học và Công nghệ công lập thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cần được xây dựng đáp ứng được yêu cầu đặt ra từ bối cảnh trong nước và quốc tế, tận dụng được những thời cơ và đối mặt với các thách thức đặt ra trong giai đoạn 10 năm tới.
2. Cơ sở pháp lý của Quy hoạch mạng lưới tổ chức KH&CN công lập 2021–2030, tầm nhìn 2050
Báo cáo Quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập không phải là một văn bản độc lập tách rời khỏi hệ thống chính sách và pháp luật quốc gia; nó là kết tinh của các định hướng chiến lược, khung pháp lý và các văn bản hướng dẫn thi hành. Ở cấp cao nhất, văn kiện Đại hội Đảng và các nghị quyết Trung ương, cùng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị, cung cấp tầm nhìn chiến lược và các ưu tiên quốc gia về đổi mới sáng tạo, tham gia Cách mạng công nghiệp 4.0 và nâng cao năng lực khoa học công nghệ. Những định hướng này không chỉ xác định mục tiêu dài hạn mà còn là cơ sở chính trị để quy hoạch được chấp thuận, huy động nguồn lực và đồng bộ hóa với các chính sách phát triển kinh tế‑xã hội khác.
Luật Quy hoạch và các văn bản hướng dẫn thi hành tạo ra khung pháp lý trực tiếp cho quá trình lập quy hoạch: xác định thẩm quyền, phạm vi, nguyên tắc và phương pháp lập quy hoạch, đồng thời quy định việc tích hợp các loại quy hoạch ở cấp quốc gia, vùng và tỉnh. Trên nền tảng đó, các thông tư về định mức, hướng dẫn về chi phí và tiêu chí đánh giá giúp chuyển các nguyên tắc pháp lý thành công cụ kỹ thuật cụ thể, đảm bảo báo cáo có căn cứ, minh bạch và dễ thẩm định. Vì vậy, mọi luận cứ, số liệu và đề xuất trong báo cáo phải được liên hệ chặt chẽ với các quy định này để bảo đảm tính hợp pháp và khả thi khi trình duyệt.
Các luật chuyên ngành và nghị định liên quan đến khoa học công nghệ, tổ chức sự nghiệp công lập, cơ chế tự chủ và vị trí việc làm cung cấp ràng buộc và điều kiện vận hành cho mạng lưới tổ chức. Luật Khoa học và Công nghệ cùng các nghị định hướng dẫn xác định chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các đơn vị Khoa học và Công nghệ công lập; các nghị định về thành lập, tổ chức lại, giải thể và về vị trí việc làm quy định khung tổ chức và quy mô nhân sự. Những quy định này quyết định trực tiếp mô hình tổ chức, cơ chế tài chính và lộ trình sắp xếp lại mạng lưới, do đó mọi phương án phân bổ, sắp xếp hay đề xuất cơ chế tự chủ trong quy hoạch phải tương thích với các quy định chuyên ngành này.
Quyết định giao nhiệm vụ của Thủ tướng và quyết định phân công của Bộ trưởng đóng vai trò như mệnh lệnh hành chính để khởi động và điều phối quá trình lập quy hoạch. Những quyết định này xác định rõ cơ quan chủ trì, phạm vi nhiệm vụ, yêu cầu về nội dung và tiến độ, từ đó tạo cơ sở pháp lý để huy động nguồn lực, tổ chức khảo sát, thu thập dữ liệu và phối hợp liên ngành. Khi trình bày báo cáo, cần nêu rõ căn cứ các quyết định này để chứng minh tính hợp lệ của quy trình lập và trách nhiệm thực hiện.
Bên cạnh đó, việc xây dựng quy hoạch không thể tách rời khỏi các chiến lược, quy hoạch và đề án quốc gia còn hiệu lực; những tài liệu này là nguồn dữ liệu và mục tiêu tham chiếu để xác định nhu cầu, ưu tiên đầu tư và tiêu chí phân bổ mạng lưới. Việc tích hợp các hợp phần chuyên môn vào quy hoạch mạng lưới giúp đảm bảo tính liên thông giữa mục tiêu phát triển KH&CN với quy hoạch phát triển kinh tế‑xã hội, quy hoạch ngành và quy hoạch vùng, đồng thời cho phép đánh giá tác động liên ngành và đề xuất cơ chế phối hợp thực hiện sau phê duyệt.
Khi đọc toàn bộ hệ thống căn cứ pháp lý này, cần cảm nhận được một chuỗi logic: từ tầm nhìn chiến lược được khẳng định ở cấp cao nhất, đến khung pháp lý điều chỉnh quy trình lập quy hoạch, rồi tới quy định chuyên môn chi phối mô hình tổ chức và hoạt động, và cuối cùng là văn bản giao nhiệm vụ thúc đẩy triển khai. Mỗi văn bản không chỉ là một trích dẫn pháp lý khô khan mà còn là một mảnh ghép quyết định cho nội dung, phương pháp và giới hạn của các đề xuất trong báo cáo; hiểu rõ vai trò từng văn bản giúp người lập quy hoạch giải trình thuyết phục, bảo đảm tính pháp lý và tính thực tiễn của mọi khuyến nghị.
Trình bày trong báo cáo cần đi từ giải thích tổng thể về hệ thống căn cứ pháp lý đến việc luận giải cụ thể cho từng đề xuất: vì sao một mô hình tổ chức được chọn, cơ sở pháp lý nào cho cơ chế tài chính đề xuất, quy định nào giới hạn quy mô nhân sự, và các văn bản nào yêu cầu tích hợp với quy hoạch khác. Khi làm được điều đó, báo cáo sẽ trở thành một công cụ vừa có giá trị pháp lý vừa có sức thuyết phục thực tiễn, giúp chuyển từ ý tưởng quy hoạch sang các chính sách, chương trình và dự án cụ thể để hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2050.
Tiến sĩ Khoa học Dữ liệu Môi Trường
Giảng viên Đại học chuyên ngành Khoa học máy tính. Tập trung nghiên cứu về Big Data, Data Mining và ứng dụng dữ liệu trong việc ra quyết định quản lý nhà nước.